LỜI TẠ TỪ
Nguyễn Bửu Đồng
tiếp theo bài “Cha Xứ Tôi”
Cha thân kính,
Con dùng từ “cha” và xưng “con” với cha không chút ngại ngùng, mặc cảm, không vì nếp sống văn hóa Việt Nam xưa nay bắt phải “gọi linh mục bằng cha và xưng con,” hay chỉ vì linh mục là chức thánh, là Đức Kitô thứ hai. Con gọi cha và xưng con với tất cả sự thân thương, trìu mến mà ngôn ngữ Việt Nam có thể chuyển đạt.
Con không nhớ cha đến với con, hay con đến với cha, hay cả hai cùng đến với nhau từ bao giờ, nhưng điều con biết chắc là từ “dạo ấy” tình cha con được vun đắp để lớn mạnh đến hôm nay. Con quý mến cha không phải vì chức thánh linh mục, vì cha là chánh xứ có quyền, hay vì cha có học thức uyên thâm, nhưng chỉ vì cha là hình ảnh đích thực, sống động của người tôi tớ hèn mọn của Đức Kitô, một chủ chăn đến để phục vụ, không phải để được phục vụ. Chỉ có thế. Thật đơn giản.
Cha không trực tiếp khuyên dạy con điều gì, nhưng con xem cha là người thầy vì con đã học hỏi nơi cha rất nhiều. Cha không rao giảng Lời Chúa từ trên bục giảng ở cung thánh tráng lệ mà bằng hành động dấn thân gương mẫu. Cha không dạy yêu thương trích từ kinh kệ, sách vở mà qua các cuộc thăm viếng người già, kẻ cô đơn, bịnh tật. Cha không truyền giáo cho… giáo dân có đạo trong ngôi nhà thờ tiện nghi mà cha đi ra ngoài rao truyền cho những người chưa biết Chúa, chưa thấy ánh sáng của Tin Mừng… Cha không có sáng kiến nghĩ ra các phương cách gây quỹ để xây cất, sửa sang nhà thờ Chúa thật lộng lẫy, nhưng luôn cố gắng tạo dựng Đền Thờ Chúa trong tâm của mỗi người. Cha không giữ đạo cho riêng mình mà lặn lội “đi” truyền đạo khắp muôn phương. Như một chiến sĩ với tinh thần trách nhiệm thật cao, chỉ buông tay súng khi không còn đạn, cha làm việc siêng năng, vất vả đến giây phút cuối cùng trước khi bàn giao và… ngay cả sau khi bàn giao công việc cho người mới đến.
Mỗi lần nghe cha giảng trong các buổi lễ ở nhà thờ hay ở tư gia, con có cảm tưởng như đang lần giở từng trang sách trong pho tự điển về kinh nghiệm cuộc sống thế trần. Cha là mẫu gương linh mục mà Giáo Hội Đức Kitô đang cần cho ngàn năm thứ ba, như lời Đức Giáo Hoàng Phao Lô VI đã nói: “Con người thời đại ngày nay không cần những bậc thầy rao giảng mà cần những chứng nhân của Tin Mừng. Nếu họ có tin các ông thầy rao giảng thì chẳng qua là những người này cũng là nhân chứng của Tin Mừng.”
Sáng nay trong buổi lễ bàn giao giữa linh mục cựu chánh xứ và linh mục tân chánh xứ, con kính phục cha và xúc động vô cùng vì thái độ, cung cách khiêm cung “làm phận người nhỏ bé” của cha. Phải thật lòng “mến Chúa yêu người,” “yêu tha nhân hơn chính mình,” và “nhìn thấy Chúa trong người anh em” mới có thể hành sử như cha được. Nhìn lên cung thánh, con thấy một bên là linh mục tân chánh xứ, một bên là chiếc ghế trống mà không thấy cha đâu. Tìm thật lâu con mới thấy cha đang ngồi trong góc xó với các em giúp lễ! Rồi như phép lạ nhiệm mầu, con bỗng thấy hình ảnh cha lớn lên, thật to, larger than life! Con chợt nhớ hôm nay Giáo Hội mừng Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Và Người đang làm phép lạ ở giáo xứ con!
Ngày nay, người ta thường nhắc nhiều đến quyền hành lãnh đạo mà quên phần quan trọng hơn là trách nhiệm, quên rằng quyền hành không phải là cứu cánh mà chỉ là phương tiện để chu toàn bổn phận, nhất là để phục vụ. Như Đức Ki Tô dạy: “Ai muốn làm lớn giữa anh em phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em phải làm đầy tớ anh em.” Suốt ba năm ở giáo xứ nầy, cũng như ở các cộng đoàn, giáo xứ khác trước đây, cha đã sống lời Chúa dạy từng ngày.
Từ tuổi thiếu niên cho đến hôm nay, con vẫn thích xem phim loại “Western Movies” mà nhiều người Việt Nam quen gọi là “phim cao bồi bắn súng!” Có lẽ vì những hình ảnh cướp bóc, đốt phá, bắn giết mà nhiều người có thành kiến với loại phim này. Nhưng con tìm thấy ở đây một mẫu người hùng thật đẹp, thật đáng ca ngợi dù cho họ không hề muốn được tôn vinh, ghi ơn hay được tạc tượng để tôn thờ. Họ không màng danh lợi, quyền chức, tiếng tăm, không muốn được ai biết đến. Họ đến trong âm thầm, ra đi trong lặng lẽ, và để lại bình an, yêu thương, đoàn kết cho mọi người. Với con, họ mới thật sự là anh hùng, dù vô danh hay ít người biết!
Cốt truyện phim thường là câu chuyện về đời sống của những người Hoa Kỳ tiên phong đi khai phá vùng American Old West/Wild West, vùng đất thuộc tây ngạn sông Mississippi ngày nay, vào giữa thế kỷ 19. Tình tiết tuy có khác, nơi chốn và thời gian thay đổi, nhưng các phim Western hầu hết có chung một chủ đề… Trong cuộc Tây tiến ở Hoa Kỳ, nhiều thị trấn được thiết lập do di dân đổ xô đi tìm vàng hay tìm cơ hội để làm giàu. Thị trấn đang phát triển, phồn thịnh. Một ngày kia, một bọn cướp kéo đến bắn phá, cướp của, gây náo loạn… Dân chúng hoang mang, sợ hãi. Luật lệ lúc nầy là luật của kẻ mạnh, của súng đạn: Bắn chậm thì chết! Không ai dám ra đường, trừ bọn cướp. Thành phố mất đi sức sống.
Rồi một lãng tử đơn thân độc mã đi ngang qua thị trấn, dừng chân tạm nghỉ… Thấy cảnh bọn cướp bắn phá, tạo bất an cho dân lành, anh bất bình ra tay rút súng… Bọn cướp rút lui với đồng bọn bị thương, nhưng hứa sẽ trở lại phục thù. Chàng “cao bồi” tạm đảm nhận trách vụ Cảnh Sát Trưởng (Sheriff), đứng ra kêu gọi cư dân đoàn kết bảo vệ thị trấn, tổ chức phòng thủ chống lại bọn cướp. Vài hôm sau bọn cướp trở lại, đông hơn, với tên đầu đảng. Nhưng cư dân có người lãnh đạo, được tổ chức, tự tin hơn, đánh tan bọn cướp. Tên đầu đảng bị bắn chết và tàn quân bỏ chạy. Cả thị trấn ăn mừng chiến thắng. Hôm sau Hội Đồng Thị Trấn ra quyết định tuyên dương công trạng và đề cử “người hùng” làm Thị Trưởng kiêm Cảnh Sát Trưởng. Nhưng, không ai tìm thấy người hùng ở đâu, chỉ thấy huy hiệu ngôi sao đồng năm cánh của Sheriff để lại trên bàn…
Sáng sớm hôm đó, trong lúc mọi người còn đang an giấc sau một đêm dài liên hoan mỏi mệt, chàng lãng tử đã lẳng lặng lên ngựa dong ruỗi đường xa. Không ai biết chàng đi đâu. Trên đường đi, có thể chàng sẽ phải dừng chân ở một thị trấn khác đang bị quân dữ cướp phá để làm nhiệm vụ người hùng! Sống kiếp giang hồ thì trời đất, gió sương là nhà, lưng ngựa là giường…
Cha thân kính,
Đối với con, chàng lãng tử trong các phim cao bồi Western là hình ảnh hào hùng, tuyệt đẹp của nhà truyền giáo. Nhà truyền giáo không dùng súng đạn, nhưng có Thánh Kinh, Lời Chúa, tấm lòng rộng mở, khoan dung, yêu thương... Nhà truyền giáo không có ngựa yên, nhưng có đôi chân Chúa ban không biết mỏi mệt, đi đến nơi nào được sai đi, nơi nào Chúa muốn gửi đến, nơi nào chưa có ánh sáng Tin Mừng. Xong, lại lên đường, đi đến một nơi khác để làm “danh Cha cả sáng.” Cứ thế mà tiếp tục cho đến khi “Nước Cha trị đến.” Tự căn tính, Giáo Hội Đức Kitô là một Giáo Hội Truyền Giáo.
Có người ví tội lỗi là rác rưởi và linh mục là “thùng rác” để thế nhân trút mọi tội lỗi trần gian. Cha không chỉ là thùng rác mà còn là người đi hốt rác, nhặt rác do anh em mình vứt vươn vải trên đường đi! Hơn một lần cha chia sẻ với con nỗi âu lo về cộng đoàn mới, nơi cha sắp đến: “Đi tu thì đâu cũng là nhà, giáo xứ nào cũng là nhà… Trước nay Bề Trên sai đi đâu con đi đó, thật bình thản. Nhưng sao lần này con cảm thấy bất an, cảm thấy lành ít dữ nhiều… Xin nhớ cầu cho con một kinh!”
Con tin Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, chọn đúng người, giao đúng việc. Sự ra đi của cha là điều thiệt thòi cho giáo xứ chúng con, nhưng là ân phúc Chúa ban cho cộng đoàn cha sẽ đến. Trong việc truyền giáo, cha không có ý chọn đi trên những con đường thênh thang đang nở đầy hoa, nhưng con tin chắc cha sẽ làm nở hoa, làm thơm ngát những nơi cha đến, như cha đã làm ở giáo xứ nầy ba năm qua.
Với mục tử nhân lành thì đâu cũng là nhà. Họ nhận ra Chúa ở khắp mọi nơi. Họ nhìn ra Chúa ở trong mọi người. Họ chọn cửa hẹp mà đi, không so đo tính toán thiệt hơn. Một lòng trung kiên, phó thác!
Nếu không thể giữ được người đi thì dù “tống cựu” (cho khuất mắt!) hay bịn rịn “tiễn đưa” cũng không thay đổi được gì. Cha đã tế nhị tránh mọi hình thức đưa tiễn để người mới sai đến được trọn vẹn “nghinh tân” theo ước nguyện…
Rồi… sau khi mọi thủ tục bàn giao giữa người cũ và người mới đã xong, một sáng tinh sương… trong lúc mọi người còn an giấc, cha yên lặng ngắm nhìn (lần cuối?!) vườn hoa có tượng Mẹ Thánh Maria an vị mùa hè năm trước, công trình tượng Thánh Anna và Thánh Cả Giuse mới hoàn tất… Cha tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho cha ba năm hồng ân hạnh phúc ở giáo xứ nầy. Cha cám ơn Mẹ Maria, Thánh Cả Giu-se và Thánh Anna đã giúp cha chu toàn trách nhiệm gìn giữ đàn chiên được bình an. Cha lẳng lặng rời ngôi thánh đường tôn nghiêm vừa trải qua cơn bão lốc đã được thu dọn lại gọn gàng, giã từ nhà xứ thân thương vừa được tân trang lát gạch, thay thảm vào những ngày cuối để đón mừng linh mục chánh xứ mới… Cha lên đường như chàng lãng tử cao bồi, anh hùng trong các phim Western: Âm thầm, lặng lẽ. Không kèn, không trống. Đơn thân độc mã ruỗi dong trên đường dài…
Trong xã hội hôm nay, thói đời cũng như thói đạo, hình như ai cũng thích “NỔI”, thích khoe thành tích, chức vụ, cấp
bằng, tiền của, phô trương quyền hành, thích được ca tụng, tôn vinh…, ham chuộng những cái phù du của cõi đời tạm bợ nầy! Khiêm nhường thường bị xem là tiêu cực thay vì là một đức tính. Nhưng với cha, con biết khi viết lên những dòng chữ này, con đã phạm đến đức ái và sự khiêm cung của cha. Con nhận lỗi. Con xin lỗi và ngưng nơi đây. Quên nữa, vì đức ái cha cho con nói một lời cuối…
Như người Ái Nhĩ Lan thường chúc nhau mỗi khi tiễn bạn lên đường, con thân kính chúc cha luôn có một luồng gió nhẹ thổi sau lưng để cha được thêm sức, tinh thần và thể lý, được mát dạ, mát lòng trên các nẻo đường truyền giáo. Chúc cha luôn luôn làm nở rộ hoa YÊU THƯƠNG và ĐOÀN KẾT ở những cộng đoàn, giáo xứ cha đến. Con ghi nhớ lời cha dặn “đọc cho con một kinh” (khi nào có thể!) để cầu xin Chúa cho cha luôn luôn và, mãi mãi là người tôi tớ hèn mọn, trung thành của Đức Ki Tô.
Thân kính,
Nguyễn Bửu Đồng