Một thoáng suy tư…
ĐỨC TIN VÀ THỬ THÁCH
Bửu Đồng
Trong thời cấm đạo, bắt đạo của vua quan triều Nguyễn -- Minh Mạng, Tự Đức -- hàng trăm ngàn tín hữu công giáo Việt Nam đã can đảm chấp nhận cái chết để bảo vệ đức tin. Trong số 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam có giáo sĩ, có giáo dân, đặc biệt là các giám mục và linh mục ngoại quốc sang truyền giáo ở Việt Nam . Những giáo sĩ truyền giáo này đã thật sự dâng hiến cuộc đời cho Thiên Chúa, giã từ quê hương mến yêu, gia đình thân thương, cuộc sống tiện nghi, làm tông đồ theo chân Đức Kitô đi truyền giáo nơi vùng đất lạ -- lạ cảnh, lạ người, lạ ngôn ngữ, tập quán, và đầy bất trắc hiểm nguy… Nhiều linh mục, giáo dân Việt Nam có thể được tha mạng để sống, nếu tuyên bố chối bỏ đạo Chúa, bước qua cây thánh giá,… nhưng đã không làm và chấp nhận án tử hình… Họ can đảm theo gương các nhà truyền giáo trung thành với đức tin vì những người nầy không phải chỉ là “thầy giảng” mà là “nhân chứng” của Tin Mừng. Nhờ đó, Tin Mừng được truyền rao, toả rộng ở Việt Nam.
Ngày nay, không còn quốc gia nào công khai tuyên bố cấm đạo và bắt đạo. Ngay cả ở những chế độ độc tài toàn trị hay các nước chủ trương “quốc giáo,” trên văn bản Hiến Pháp, mọi công dân đều có đủ quyền tự do, trong đó có tự do tôn giáo! Nhưng kẻ cầm quyền có đủ trăm phương ngàn cách để cấm đạo và bắt đạo. Đó là những thế lực ngoại thù từ bên ngoài, đàn áp bằng bạo lực không đáng sợ nếu người tín hữu có đức tin vững mạnh nơi Thiên Chúa, Thượng Đế, Đấng Tối Cao. Kẻ thống trị có thể cản ngăn việc đi nhà thờ, dự lễ, đọc kinh, truyền chức, những hình thức giữ đạo bề ngoài… nhưng không thể ngăn cấm quả tim vững tin biết thờ phượng Chúa và sống theo đường lối gương mẫu của Đức Kitô.
Nhiều người lãnh đạo giáo hội Việt Nam ngày nay nghĩ rằng tử vì đạo như tiền nhân không khó và cũng không cần thiết vì sinh mạng (của mình) quý giá vô cùng nên đã… “khôn ngoan” chọn cái khó hơn, sống vì đạo!
Ở cương vị giáo dân, quả thật nhiều người cảm thấy sống đạo, sống đức tin trong bối cảnh giáo hội hiện nay khó vô cùng , và có thể hơn một lần cảm thấy đức tin bị lung lay, chao đảo qua những thực tế mắt thấy tai nghe. Những thực tế này nhiều người thấy, nhiều người nghe biết, không phải chỉ là những kinh nghiệm riêng của cá nhân mà rất phổ biến ở các giáo xứ, cộng đoàn Việt Nam ở hải ngoại cũng như nhiều xứ đạo… giàu có ở quê nhà, tập trung quanh vùng phụ cận Sàigòn và các thành phố lớn từ Nam ra Bắc.
VÌ SAO SỐNG ĐỨC TIN NGÀY NAY THẬT KHÓ?
Những thế lực ngoại thù đàn áp, cấm đạo thường làm cho đức tin vững mạnh. Nhưng những yếu tố nội thù, những thực tế sống đạo trái ngược với lời dạy của Đức Kitô từ thành phần lãnh đạo mới có sức mạnh làm cho đức tin lung lạc và tan biến. Sự hình thành của giáo hội Tin Lành với Luther là một bằng cớ điển hình.
Cuộc sống đạo của người tín hữu giáo dân Việt Nam ngày nay gặp nhiều thử thách đến từ bên trong giáo hội, có thể làm lung lay đức tin bất cứ lúc nào:
• Làm sao củng cố đức tin khi lời dạy của Đức KiTô “Hãy thương yêu người hàng xóm như chính mình” được thay thế bằng lối sống khôn ngoan của thế gian “đèn nhà ai nấy sáng,” “thân ai nấy lo,” “địa phận ai nấy giữ,” ”Cha chung để người khác khóc?”
• Làm sao củng cố đức tin khi nghe “chủ chiên” khuyên dạy giáo dân cố gắng nhịn nhục, ráng chịu bất công để mặc cho kẻ cầm quyền cướp đất xây khách sạn, để cá nhân và giáo phận được tiếng biết “làm tốt đời, đẹp đạo,” để mình… thênh thang đi làm “mục vụ hải ngoại?” Chủ chiên cầm gậy trong tay mà không dám chống lại sói dữ bảo vệ đàn chiên thì nên gọi là gì? Ngoạn Mục?!
• Làm sao củng cố đức tin khi nhìn thấy cảnh “một con ngựa đau cả tào bỏ chạy” qua trường hợp Linh muc Nguyễn văn Lý?
• Làm sao củng cố đức tin khi nhận thấy thành phần lãnh đạo giáo hội, hầu hết chỉ là “thầy giảng,” những thầy giảng “không biết ăn nói,” nhưng biết quanh co, cù nhầy, bẻ cong “sự thật” với thuật ngữ?
• Làm sao củng cố đức tin khi những ngưòi lãnh đạo giáo hội cứ tiếp tục theo đường lối cố thủ, pháo đài, bế quan tỏa cảng, bịt mắt, bịt tai, bịt miệng?
• Làm sao củng cố đức tin khi những người lãnh đạo giáo hội cố tình hiểu từ “chính trị” theo một nghĩa đen rất nông cạn để ngụy biện cho chủ trương “không làm chính trị!”
• Làm sao củng cố đức tin khi những người lãnh đạo giáo hội chỉ chú trọng “làm được việc” (cho địa phương mình) hơn “làm đúng cách,” chỉ biết cái lợi nhất thời mà không nghĩ đến hậu quả dài hạn trong tương lai, nhìn gần mà không nhìn xa, chỉ biết nhìn cục bộ mà không nhìn được toàn diện, không nhìn ra một hình ảnh to rộng hơn cho giáo hội?
• Làm sao củng cố đức tin khi lời rao giảng và đời sống cá nhân người rao giảng là hai hướng đi ngược chiều? Nhiều người chỉ cố trau chuốt lời rao giảng như ca sĩ đi hát show mà không muốn làm chứng nhân cho đức tin như mong muốn của Cố Giáo Hoàng Phao Lồ VI: “Con người thời đại ngày nay không cần những thầy giảng mà cần những chứng nhân đích thực của Tin Mừng!”
• Làm sao củng cố đức tin khi các nhà thờ đồ sộ, lộng lẫy, tiện nghi, những cơ sở tôn giáo hoành tráng được tranh nhau xây cất giữa đám dân nghèo bữa đói bữa no, áo quần không lành lặn, thất học, không có phương cách sống xứng đáng như một con người “linh ư vạn vật?” Đó là hình ảnh đích thực của một giáo hội của người nghèo do Đức Kitô gây dựng 2000 năm trước?
• Làm sao củng cố đức tin khi có nhiều mục tử đã long trọng hứa sống đời khó nghèo lúc nhậm chức, lại ham mê tiền của, thú vui vật chất hơn người giáo dân tầm thường? Từ tòa giảng một giáo xứ Việt Nam ở Texas, Hoa Kỳ: “Ơn gọi hiện nay rất ít. Nếu sống nghèo nàn, thiếu thốn thì còn ai muốn đi tu làm linh mục nữa?”
• Làm sao củng cố đức tin khi nhìn thấy nhiều linh mục lái những chiếc xe mới đắc tiền, chạy xăng như uống nước, nhưng luôn miệng than nghèo, lương bổng ít, đã hy sinh thế này, thế nọ cho cộng đoàn, giáo xứ?
• Làm sao củng cố đức tin khi giáo dân biết được những lăng nhăng về tiền bạc của người mục tử chăn chiên, lấy của công làm của tư, sử dụng quỹ của giáo xứ như công khó của mình, cho mình và vì mình?
• Làm sao củng cố đức tin khi nghe người ngoài đạo và trong đạo “dí dỏm”: “kiếp sau tôi muốn làm linh mục vì làm linh mục… sướng quá, quyền hành quá?”
• Làm sao củng cố đức tin khi nhìn thấy nhà thờ Chúa biến thành nơi bán buôn thường xuyên, sáng kiến gây quỹ phong phú tràn đầy, còn sinh hoạt tâm linh, công tác truyền giáo… như trăng sao buổi sáng?
• Làm sao củng cố đức tin khi thấy người tu hành quan tâm, rành giỏi chuyện đời hơn việc đạo?
• Làm sao củng cố đức tin khi nhìn thấy danh Chúa được dùng để làm sáng danh ta?
• Làm sao củng cố đức tin khi linh mục chính xứ có tài gây quỹ kiếm tiền hơn khả năng rao giảng lời Chúa; dùng toà giảng để tự tâng bốc, kể công vất vả hay đe dọa, chưởi mắng, xua đuổi những giáo dân không chịu “nhất trí” với minh về những công trình xây cất, sửa sang vô ích, phí phạm, tốn kém, lem nhem?
• Làm sao củng cố đức tin khi giáo dân chỉ được huấn luyện, dạy dỗ để tuân phục, vâng lời như những con trừu Panurge mù quáng?
• Và nếu đức tin của chính người tín hữu đang theo đạo Chúa còn chưa đủ mạnh, chưa đủ vững lại được giao cho sứ mệnh truyền giáo thì con đường truyền giáo cho người chưa biết Tin Mừng của Đức Kitô sẽ đi về đâu? Giữ đạo chưa xong, chưa đúng cách thì đi truyền giáo như thế nào, cho ai, ai nghe theo?
• …
Những điều mắt thấy tai nghe trên có thể được nghĩ chỉ là hành động của một thiểu số? Đúng, nhưng là một thiểu số khá đông, và có chiều hướng gia tăng, nhất là thiểu số đó lại đang giữ vai trò lãnh đạo quan trọng trong giáo phận hay giáo xứ, những đơn vị cộng đoàn nền tảng của giáo hội. Đương kim Giáo Hoàng Biển Đức VI đã cảnh báo về ơn gọi quá sung mãn ở các quốc gia nghèo. Phải chăng nếp sống “tù trưởng” với quyền hành và của cải thế gian là sức hút, động lực thúc đẩy cho nhiều người chọn con đường làm môn đệ Đức Kitô?
Còn bao nhiêu thực tế khác trong cung cách “sống đạo theo truyền thống Việt Nam” hoàn toàn trái với lời dạy của Đức Kitô, được người có trách nhiệm lãnh đạo cổ súy gìn giữ vì quyền lợi riêng của mình khiến cho nhiều tín hữu giáo dân giao động, cảm thấy đức tin của mình bị xúc phạm… Nếu họ còn giữ đạo nhiệt thành thì quả thật là một ân sủng Thánh Linh to lớn, chỉ có Thiên Chúa mới làm được.
Cha mẹ dạy con, thầy giáo dạy học trò, nhất là người đi truyền giáo nếu chỉ nói mà không làm thì lời nói sẽ cuốn trôi theo chiều gió, kết quả hại nhiều hơn lợi, vô tình đã minh chứng cho người nghe, đối tượng thấy rằng những gì mình nói không thể thực hiện được hay mình chỉ là “cái máy giảng!” Người giảng dạy không làm được thì tại sao người nghe lại phải ráng nghe và cố gắng làm theo?
Sau 50 năm kể từ ngày hàng giáo phẩm Việt Nam chính thức được thành lập, 1960-2010, tỷ lệ giáo dân so với dân số có chiều hướng đi lùi, theo báo cáo năm 2005 của linh mục Nguyễn Ngọc Sơn, Tổng Thư Ký Hội Đồng Giám Mục Việt Nam lúc bấy giờ, trong khi ơn gọi linh mục ở Việt Nam hiện nay gia tăng tràn, dư thừa. Đây là dấu hiệu đáng mừng cho giáo hội Việt Nam hay một sự cảnh báo để mọi tín hữu cùng suy nghĩ? Năm Thánh 2010 là cơ hội để mọi người cùng xét mình, nhìn lại, nhất là những đấng bậc làm thầy giảng đang lãnh đạo giáo hội Việt Nam!
“Hãy coi chừng! Một giáo hội không bị bách hại nhưng được hưởng đặc quyền và hỗ trợ bằng của cải thế gian không phải là giáo hội của Đức Ki Tô.”
TGM Oscar Romero.