CẦN THAY ĐỔI NÃO TRẠNG KHI NGHĨ VỀ LINH MỤC
Bửu Đồng
Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã lập ra Năm Thánh Linh Mục 2009-2010, bắt đầu từ ngày 19-06. Sau một thời gian Giáo Hội mang tai tiếng do vụ lạm dụng tình dục trẻ em của một số linh mục, làm tổn thương uy tín của cả tập thể linh mục cũng như Giáo Hội nói chung, người lãnh đạo Giáo Hội muốn đặt lại vị trí đích thực của người giữ chức linh mục trong khung cảnh thế giới hôm nay , không phải một hình ảnh quyền uy của thời trước Công đồng Vaticano II, mà là hình ảnh của những môn đồ thật sự bước chân theo Đức Kitô, “đến để phục vụ, không phải để được phục vụ,” hình ảnh của những người truyền giáo sống đời khó nghèo, vui với ơn gọi truyền giáo, rao giảng Tin Mừng.
Ba tháng qua, trên các mạng truyền giáo trong nước và ngoài nước, xuất hiện nhiều bài viết của linh mục, và một ít bài viết của giáo dân đề cao, tôn vinh người giữ chức thánh. Điều này dễ hiểu. Trong xã hội và nếp sống văn hóa Việt Nam, người tu làm linh mục được kính trọng và đặt để ở một địa vị cao cả, rất cao cả.
Qua các bài viết này, người đọc dễ dàng cảm nhận ra hai ý tưởng chánh mà các tác giả muốn nói lên: Chọn ơn gọi linh mục là chọn con đường hy sinh, là chọn cuộc sống cô đơn…
Cô đơn và hy sinh! Xin được góp ý về hai điểm căn bản này.
1.- CÔ ĐƠN.
Cô đơn khác với “một mình”. Một mình (alone, aloneness) chỉ tình trạng thể lý, không có ai ngoài mình. Cô đơn (lonely, loneliness) là trạng thái tinh thần trống vắng, không có người cảm thông, chia sè.. Giữa đám đông, nghĩa là không ở tình trạng “một mình,” một người vẫn có thể cảm thấy “cô đơn.” Ở hoàn cảnh độc thân, “một mình” chưa hẳn là “cô đơn.” Người viết có dịp hỏi chuyện một linh mục người Mỹ:
- “Có bao giờ cha cảm thấy cô đơn không?”
Với nụ cười nở rộng trên môi, cha hỏi lại:
-“Anh thấy tôi ra sao? Có cô đơn không?”
Cha làm việc siêng năng, đi thăm giáo dân, viếng bạn bè… không có dư giờ ngồi nghĩ vẩn vơ xem mình có cô đơn không. Vậy cô đơn, do tình trạng độc thân/một mình không đáng sợ, có thể tránh để không xảy ra; và nếu xảy ra cũng dễ vượt thắng. Cái nguy hiểm là tâm trạng cô đơn giữa đám đông. Loại cô đơn này không chỉ xảy ra cho người tu hành chọn đời sống độc thân mà cũng xảy ra trong đời sống những người chọn ơn gọi đôi bạn.
Một linh mục chánh xứ cảm thấy cô đơn vì ôm đồm nhiều việc, làm việc không biết tổ chức, không giao việc, ủy quyền, không tin cậy những giáo dân cộng tác với mình, nghĩ rằng chỉ có mình mới có khả năng thực hiện, chu toàn…, chưa kể có “những vấn đề” không muốn giáo dân biết tới, nhất là vấn đề tiền bạc giáo xứ; nói tóm, lo việc đời nhiều hơn việc đạo, thì sự cô đơn khó tránh khỏi.
Thường khi sự cô đơn của linh mục là do chính linh mục, giáo dục và môi trường tạo ra. Thấy mình được giáo dân kính trọng, nể phục vì “được Chúa chọn,” mình thuộc thành phần ưu tú, xuất chúng, hơn tất cả mọi người, một “Đức Kitô Thứ Hai” ở trần thế, dễ đưa cá nhân đến ý nghĩ tự mãn, tự cô lập, nghĩ rằng: không ai có thể hiểu được mình, trừ Thiên Chúa và đồng bạn linh mục. Phần giáo dân Việt Nam, do lối giáo dục nhồi sọ trước nay, có khuynh hướng đồng hóa chức vụ và người giữ chức vụ: linh mục là chức thánh; người giữ chức linh mục trọn đời là ông thánh sống, thông hiểu mọi sự trên trời dưới đất, không bao giờ sai lầm. Những gì cha nói, cha phán thì phải đúng. Cha là Chúa! Bởi đó, linh mục được hầu hết giáo dân Việt Nam xếp vào loại “kinh nhi viễn chi,” kính phục nhưng không dám đến gần, chỉ đứng xa mà nhìn vì linh mục không cùng… hệ phàm nhân với mình!
Cho nên cái “cô đơn” của linh mục là do sự “ngăn cách” giữa linh mục và giáo dân. Cái ngăn cách này phần lớn là do chính cá nhân linh mục tạo ra. Một trong những nguyên tắc căn bản của lãnh đạo là “người lãnh đạo muốn lãnh đạo hữu hiệu phải được người theo xem/nhận là người-của-mình,” cũng như mình, thuộc thành phần như mình; thông minh hơn một chút thì được, nhưng quá thông minh thì không được ( The leader must be perceived as “one-of-us” ). Đám giang hồ đạo tặc hay quần chúng tự phát không bao giờ muốn có ông tiến sĩ làm lãnh tụ của mình. Một linh mục biết đồng cảm, sống hòa mình với quảng đại giáo dân, vui với niềm vui của họ, lo với nỗi đắng cay, nhọc nhằn của họ trong đời sống, nói tiếng nói, nguyện vọng của họ… thì không bao giờ cảm thấy cô đơn! Linh mục Jean Cassaigne, một linh mục thuộc Hội Thừa Sai Balê đến Di Linh năm 1927 để chăm sóc cho người thượng bị phong cùi, có khi nào cảm thấy cô đơn? Suốt ngày và suốt đời cha bận rộn với đời sống “yêu thương và phục vụ.” Cha rất đau long khi phải rời những người anh chị em phong cùi để về làm Giám Mục Saigòn: "Tôi là người từng mơ thành một Thừa Sai tầm thường. Tôi đã coi sự nghèo khó của mình là niềm hãnh diện và niềm vui, nay lại trở thành một hoàng tử của Giáo Hội. Nhưng, dù người ta sẽ thay y phục và chỗ ở của tôi, chẳng ai thay được con người chất phát nơi tôi."
Vậy cô đơn của người tu hành không do tình trạng “một mình” hay độc thân mà do chính cá nhân nhiều hơn. Người thật sự đi theo Chúa, tìm ra lẽ sống đích thực lúc nào cũng lạc quan, phó thác, tin yêu, không ngại khó, không ngại nhọc, không than thở, không so sánh… thì luôn luôn tìm ra nguồn vui trong công việc. Linh mục cô đơn là linh mục không có đời sống nội tâm, không ở cùng Chúa!
Những môn đồ thật sự đi theo Chúa không bao giờ cảm thấy cô đơn vì Chúa luôn luôn đi cùng, song bước với họ trên khắp nẻo đường. Cuộc đời hoạt động của Mẹ Têrêsa thành Calcutta chứng minh điều đó. Câu chuyện dụ ngôn “Dấu chân trên bãi cát” mà các linh mục thường kể để khuyên dạy giáo dân… chứng minh điều đó. Môn đồ theo Chúa mà cảm thấy cô đơn vì không có Chúa cùng đi, hoặc muốn đi riêng một mình, không đi với Chúa.. Đây là một dấu chỉ báo động nguy hiểm gần kề: sa chước cám dỗ!
2.- HY SINH.
Hy sinh là một trong những từ bị lạm dụng nhiều nhất: Cha mẹ hy sinh cho con, linh mục hy sinh cho giáo dân…. Làm nhiệm vụ, chu toàn bổn phận không phải là hy sinh. Cha mẹ sinh tạo, mang con cái vào đời có trách nhiệm nuôi dạy con cái nên người tốt với hết sức mình. Người đi làm lãnh lương có trách nhiệm làm hết việc, không làm hết giờ: làm ở sở không xong, không hết việc… mang về nhà làm không thể gọi là hy sinh làm việc! Hy sinh chỉ xảy ra khi một cá nhân làm viêc vượt quá trách nhiệm, quên mình vì phúc lợi của người khác, và việc làm đó tổn hại đến bản thân, quyền lợi chánh đáng của mình, như một người đi đường không ngại hiểm nguy cho tánh mạng, dừng chân chống lại bọn cướp để bảo vệ người cô thế. Điều đáng nêu ra đây là người hy sinh thật sự thì không bao giờ nghĩ rằng mình đã hy sinh. Người hy sinh “nửa vời” thì thường lớn tiếng rêu rao mình đã hy sinh làm việc này, việc nọ.
So với các chiến sĩ đánh giặc ở chiến trường và người rao giảng Tin Mừng trên bục nhà thờ, ai làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm, đòi hỏi hy sinh nhiều hơn?
Các anh hùng vô danh cả đời hy sinh, khi sống cũng như lúc chết, có bao giờ than van, phàn nàn đâu!
Một linh mục làm chánh xứ, có dư thời giờ ghi tên học chương trình tiến sĩ ở Los Angeles, cùng lúc dư thời giờ chăm sóc cha già cố để lãnh tiền của cơ quan An Sinh Xã Hội, và hàng năm về Việt Nam nghỉ hè ít nhất một tháng… mà dám rêu rao là hy sinh, là thương người/bác ái ư?
Thật tội nghiệp cho các tín hữu đi truyền giáo ở những nơi chưa có Tin Mừng, tính mạng thường xuyên bị đe dọa, thiếu thốn mọi thứ vì không biết… lựa chọn cách hy sinh. Cơ hội “hy sinh” và sống “bác ái” theo cách nầy làm hàng triệu triệu người mơ ước! Người tín hữu giáo dân chọn “ơn gọi vợ chồng” dễ gì có cơ hội “hy sinh” như vậy!
Tìm mãi trong Thánh Kinh không thấy ở chương nào Đức Kitô dạy các môn đồ… bí tích truyền chức thánh quan trọng hơn bí tích hôn nhân.
Do lối giáo dục nhồi sọ của giáo sĩ, tu sĩ từ trước tới nay, giáo dân Việt Nam tôn vinh, đặt vai trò của linh mục cao vời vợi, thần thánh hóa người lãnh nhận thừa tác vụ này và tự xem nhẹ con đường cuộc sống lứa đôi mình chọn. Không thể có ơn gọi linh mục nếu không có ơn gọi gia đình. Nếu không có những người làm cha, làm mẹ sống xứng đáng, gương mẫu, chu toàn trách nhiệm (hy sinh!), liệu có ơn gọi làm linh mục không? Có thể nói ơn gọi gia đình chính là cái nôi nuôi dưỡng ơn gọi linh mục.
Ở các xã hội Tây Phương, số người đi tu làm linh mục càng ngày càng giảm sút ví cái nôi gia đình đổ vỡ: ly dị, ngoại tình, cha mẹ xem việc nuôi dạy con cái là sự “hy sinh” hay gánh nặng quá lớn, làm mất tự do… Cho nên, giáo dân cần thay đổi não trạng khi nghĩ về con đường chọn ơn gọi đời sống lưa đôi của mình. Đừng vì mặc cảm “không có chức thánh” mà hạ mình đặt nhẹ con đường mình chọn!
Trước khi lấy chồng, người con gái có thể không biết nhiều về người nam mình sẽ nhận làm chồng, và người nam cũng có thể không biết nhiều về người vợ tương lai, dù hai bên đã có thời gian tìm hiểu. Phải chờ sau đám cưới con người thật mới hiện rõ ra. Bởi đó, việc “trao duyên nhằm tướng cướp” là trường hợp có thể xảy ra và thường xảy ra trong cuộc sống vợ chồng. Phần người chọn con đường tu trì, trước khi đi tu và trong khi tu học, đã biết trước rằng đời sống linh mục là “cô đơn,” là “hy sinh” (tạm gọi như vậy), và có nhiều cơ hội để từ khước; cơ hội thực tập sống đời tu trì khi đi giúp giáo xứ… để chọn lựa! Ơn gọi gia đình đâu có thời gian thực tập, sống chung, sống thử… vừa ý rồi mới quyết định! (Hẳn nhiên trong thực tế, ngày nay có nhiều thanh niên nam nữ… sống chung trước rồi mới quyết định tiến tới hôn nhân sau. Nhưng đây là một vấn đề khác.)
Tu hành là sự lựa chọn tự do.
Chúa mời gọi nhưng Chúa không bắt ép. Chúa không bắt ai phải làm linh mục. Chúa đã cảnh báo trước « Muốn theo Thầy các con phải từ bỏ tất cả. » Đây là con đường tự nguyện, mình chọn hướng đi thích hợp với mình, với lý tưởng sống, với mục đích cuộc đời do mình vạch ra. Dù theo ơn gọi nào, đời sống vợ chồng hay đời sống linh mục, ai cũng phải phấn đấu vất vả, gian truân, cần sự nâng đở, cảm thông của người khác để chu toàn nhiệm vụ. Rất nhiều người chọn ơn gọi gia đình sau một thời gian đã thốt lên «nếu biết như vầy thì đi tu cho sướng hơn!»
Đấy, cái tâm lý so sánh làm cho mình khổ chứ không phải trách nhiệm nặng nề hay công việc làm cực nhọc: cỏ nhà người hàng xóm luôn luôn xanh tươi hơn cỏ nhà mình! Từ bục giảng trên cung thánh, một linh mục chánh xứ so sánh « ngày thứ bảy, chúa nhật, các anh chị em được nghỉ, còn tôi phải làm việc, » rồi kết luận rằng mình hy sinh nhiều quá mà giáo dân không biết ơn! (Hai bạn trẻ ngồi bên nói nhỏ với nhau: Từ thứ hai đến thứ sáu tụi mình dậy sớm đi làm việc vất vả, còn cha… đi đánh tennis!)
Cô đơn mà nhiều người vẫn muốn! Hy sinh mà không ít người vẫn bền chí theo đuổi! Ơn gọi linh mục ở các nước nghèo tràn đầy, dư thừa trong khi ở các quốc gia Tây Phương giàu có sút giảm thê thảm! Ở Việt Nam hiện nay, số thanh niên nam muốn đi tu làm linh mục nhiều hơn so với thời trước 1975. Nhiều ứng cử viên có cả bằng thạc sĩ XHCNVN mà vẫn cứ xin đi tu. Tại sao? Ở các nước nghèo đói, “làm linh mục là có tất cả:” sự kính trọng, địa vị, quyền hành, tiền bạc (nếu đi làm cha chánh xứ trông coi họ đạo)…, những thứ mà ngoài xã hội nhiều người phải vất vả cả đời vẫn không đạt được. Bởi đó, không ít người muốn “mượn đạo tạo đời.” Chính đương kiêm Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã nhận thấy điều này, và hơn một lần lên tiếng cảnh báo: Làm linh mục không phải là chọn con đường tiến thân (vì đường đời bị tắt nghẽn) mà là chọn con đường phục vụ theo gương Đức Kitô!
Giáo Hội đặt ra Năm Thánh Linh Mục không phải đề tạo dịp tô son đánh phấn thêm cho chức vụ này mà cốt để đưa người giữ chức thánh trở về với vai trò thật sự của mình là phục vụ, phục vụ và phục vụ theo gương Đức KiTô.
Giáo Hội không thiếu những linh mục đức hạnh, vui sống đời phục vụ, hy sinh (mà không nói, không biết mình hy sinh!) đi đến những nơi chưa có Tin Mừng để truyền giáo. Không ai phủ nhận sự đóng góp rất quan trọng của thành phần giáo sĩ và tu sĩ trong việc thăng tiến con người, làm đẹp đời tốt đạo, trong Giáo Hội và ngoài xã hội. Và cũng như bất kỳ một trách nhiệm quan trọng nào, không ai có thể hoàn tất một mình mà không cần sự cộng tác, nâng đỡ, góp sức của người khác. Huống chi Giáo Hội không phải chỉ gồm các giám mục, linh mục, và tu sĩ mà bao gồm tất cả mọi thành phần dân Chúa, trong đó giáo dân chiếm phần quan trọng nhất. Giáo Hội luôn luôn cần sự cộng tác của tất cả mọi thành phần trong Giáo Hội, mọi tín hữu để có thể chu toàn sứ mệnh “Rao giảng Tin Mừng cho khắp muôn dân.“ Nếu ai cũng vui với trách vụ và luôn luôn cố gắng chu toàn thì mùa hái gặt sẽ thành công to.
Trên Nước Trời chắc chắn không có các ông thánh Cô Đơn! Và cũng không có ông thánh nào nhờ luôn miệng kể lể mình đã “hy sinh” nầy nọ mà được lên Thiên Đáng. “Cô Đơn” và “Hy sinh” không có trong ngôn ngữ các thánh trên Nước Trời! Người đi rao giảng Tin Mừng mà cảm thấy CÔ ĐƠN, bực bội vì nghĩ mình phải HY SINH quá nhiều thì tự mình đã sống phản lại Tin Mừng, biến Tin Mừng thành TIN BUỒN, TIN BỰC MÌNH… Kết quả truyền giáo sẽ ra sao?!
THAY LỜI KẾT:
Ngày 31-08-2009, người viết nhận được điện thư từ một người bạn đang làm công việc truyền giáo ở Thái Lan, chia sẻ ý nghĩ về Năm Thánh Linh Mục và chức vụ linh mục. TBM, nguyên là kiến trúc sư, có công việc làm tốt, đã cùng gia đình gồm vợ và ba con nhỏ, tuổi từ 5-9, gia nhập một dòng truyền giáo Hoa Kỳ, đi truyền giáo ở Thái Lan từ năm 2003. Thoạt đầu anh chỉ có ý định đi truyền giáo một giao kỳ 4 năm. Nhưng càng làm việc giúp đỡ các trẻ em bất hạnh -- mồ côi, bịnh tật, xã hội ruồng bỏ, thiếu nữ bị hiếp có mang… -- anh càng thương mến các em, càng muốn có cơ hội dạy dỗ, giúp các em nên người tốt, càng vui thích công việc đang làm. Sau khi hoàn tất giao kỳ I, anh ký thêm một giao kỳ 4 năm nữa. Với người viết, TBM và gia đình mới thật sự là mẫu người hy sinh: từ bỏ đời sống sung túc, tiện nghi vật chất dư thừa, chấp nhận thiếu thốn, gian nan… để đem hy vọng, nguồn vui đến những người bất hạnh. Thế nhưng chẳng bao giờ nghe anh than van hay nói đã “hy sinh” này nọ. M. bận rộn suốt ngày từ sáng sớm đến nửa đêm. Đặt lưng xuống là ngủ, còn giờ đâu để than! Cầu xin Thiên Chúa luôn ở bên anh và gia đình [1].
Người viết đồng cảm với những chia sẻ của M. về ý nghĩa Năm Thánh cũng như vai trò của Linh Mục. Xin phép anh ghi lại đây để chia sẻ với bạn đọc.
Trích:
[… Không biết bác có nhận những emails như thế này không? M. đọc thấy bất bình quá.
Trong bài attachment có câu: “Đừng hỏi linh mục đã làm gì cho Bạn, mà hãy hỏi rằng Bạn đã làm gì cho người linh mục hôm nay.” [2]
Có người đặt “linh mục” ngang hàng với tổ quốc và có lẽ năm nay tiện đà sẽ có người gắn biểu ngữ trên bàn thờ, “Linh mục trên hết” thay vì tổ quốc trên hết. Suy tôn chức vụ quá thành mù quáng.
Và email dưới đây:
KHÔNG CÓ LINH MỤC, KHÔNG CÓ BÍ TÍCH THÁNH THỂ. - KHÔNG CÓ BÍ TÍCH THÁNH THỂ, KHÔNG CÒN GIÁO HỘI.
Câu này thấy không ổn. Ở nhiều nơi trên thế giới, ngay cả miền bắc VN, đã nhiều năm không có linh mục, nhưng Giáo Hội đã chết đâu?
CẦU NGUYỆN THÔI, CHƯA ĐỦ - LINH MỤC CẦN ĐƯỢC YÊU MẾN, NÂNG ĐỠ. [3]
M. cảm thấy nói câu này khác chi chửi cha vào việc cầu nguyện. Cầu nguyện là gì nếu không phải là yêu mến và nâng đỡ? Ai lại không cần được yêu mến và nâng đỡ? Nếu chỉ muốn ám chỉ cầu nguyện chỉ là cầu nguyện suông thì đó là cái nạn của nguyên cả một Giáo Hội rồi.
Nếu muốn nói về yêu thương và nâng đỡ như đôi bạn/vợ chồng thì cái đó lại khác. Lãnh nhận bí tích để làm “linh mục”, cũng như bí tích hôn nhân là một lựa chọn tự do. Tại sao lại phải than vãn vì thiếu vắng yêu thương và nâng đỡ?
Về tinh thần, có bao nhiêu người được có cơ hội như linh mục? Có bao nhiêu nhà dòng, bao nhiêu địa phận thiếu social workers hoặc counselors? Mỗi linh mục, giáo sĩ, tu sĩ đều có dịp mỗi năm đi tĩnh tâm ít là một tuần, rồi sabbaticals … Những người tín hữu giáo dân chọn “ơn gọi vợ chồng” dễ gì có cơ hội như thế!
Nói về vật chất, thử hỏi có linh mục nào lo bị thất nghiệp không?
Có linh mục nào phải lo về health insurance?
Có bao nhiêu người trên thế gian này được cái diễm phúc không phải lo cơm ăn áo mặc hàng ngày như các linh mục?
Có dịp bác cứ thử vào một vài chủng viện hoặc nhà xứ, hay một vài nhà dòng coi xem những bữa ăn của họ như thế nào rồi so sánh xem có bao nhiêu giáo dân dám mơ ước những ngày có ăn như vậy?
M. đã từng sống trong nhà dòng, đi giúp xứ, đi dạy học, không có đến một giây phải lo đến việc ăn uống, health care… Nhưng khi ra ngoài làm việc phải lo từng xu một, đắn đo nhiều thứ… Tuy nhiên M. chấp nhận vì đó là một lựa chọn tự do.
Năm nay GHCG chọn là năm linh mục… Chắc các người lãnh đạo Giáo Hội muốn thấy cái gì khác hơn trước nay nơi linh mục. Nếu chỉ để lập đi lập lại hay củng cố cái địa vị để làm cha thiên hạ thì thấy dư thừa quá. Họ đã từng làm như thế qua bao nhiêu thế kỷ và đã bòn rút bao nhiêu hầu bao của những linh hồn khốn khó như những bà góa trong Kinh Thánh rồi…
Có lẽ năm linh mục là cơ hội để trả lời chân thực cho câu hỏi “linh mục đã làm gì cho giáo dân,” chứ đừng đòi hỏi “giáo dân đã làm gì cho linh mục!”
Hết trích] (Chữ nghiêng, đậm nét và tô màu đỏ là do người viết trình bày).
Chú Thích:
[1]Bạn đọc nào muốn tìm hiểu hay yểm trợ cho hoạt động bác ái và truyền giáo của M., mời viếng mạng và liên lac với:
www.sanseshare.org
www.wildflowerhome.net
[2]Xuân Thái, “Bạn đã làm gì cho linh mục?”
[3] Cindy Wooden, “Cầu nguyện thôi, chưa đủ. Linh muc cần được yêu mến, nâng đở.” BTGH chuyển ngử từ “Year for Priests: Prayers not Enough; Clergy need Love, Support.”