Góp ý về vấn đề…

LÀM THẾ NÀO…“ĐỂ CÓ NHỮNG TRẦN DUY NHIÊN MỚI?”

Peter Giáo D.

Chỉ hơn một năm, giáo hội Việt Nam đã mất hai đứa con yêu quý hết lòng dấn thân làm đẹp giáo hội; giáo dân Việt Nam mất hai kiện tướng luôn cố gắng làm sáng tỏ vị thế đich thực của vai trò giáo dân trong giáo hội bằng quyết tâm và sự hiểu biết sâu rộng của mình: Hoàng Quý ra đi tháng 1-2008, Trần Duy Nhiên nối gót tháng 2-2009. Một người ở hải ngoại, một người còn trong nước. Do hoàn cảnh chính trị khác biệt, hai anh đã chọn phương thức phục vụ giáo hội khác nhau. Một người tu xuất, đi gần trọn con đường tu học thì bỏ cuộc, chọn hướng đi khác; một người chưa có một ngày trong chủng viện, nhưng luôn trên con đường tìm biết Chúa qua kinh nghiệm của cuộc sống bản thân.

Một người bạn khác mà tôi có dịp quen biết và tâm đắc từ khi mạng Tiếng Nói Giáo Dân ra đời tháng 4-2004 là Nguyễn Chính Kết , trước tranh đấu cho tự do tôn giáo ở trong nước và từ 2006 anh đã trốn ra hải ngoại để vận động cho nhân quyền và dân chủ cho Việt Nam. Tuy cùng mục đích phục vụ giáo hội, nhưng hai anh Kết và Nhiên đã chọn hai phương cách khác nhau. Kết đã vượt ra khỏi khung qui chiếu tôn giáo của mình để tranh đấu cho mục tiêu to lớn hơn của quốc gia, dân tộc. Kết công khai bày tỏ sự bất bình của mình đối với HĐGMVN qua các thơ góp ý về thái độ im lặng gần như vô tâm đối với những bất công xã hội, sự chà đạp nhân quyền, áp bức người dân của quan chức chế độ cọng sản. Do đó, Kết không được lòng những người lãnh đạo giáo hội. Tôi quý mến cả hai anh, và Hoàng Quý, và tôn trọng sự chọn lựa phương thức hành động của mỗi người. Mỗi người tùy hoàn cảnh và tâm tính khác nhau chọn cho mình con đường phục vụ. Dù vậy, trong thâm tâm tôi nể phục Nguyễn Chính Kết hơn, cảm thấy gần gũi với Kết và Hoàng Quý hơn… Nói điều nầy không có nghĩa là tôi quý mến anh Nhiên ít hơn.

Sự ra đi đột ngột của Trần Duy Nhiên gây thương tiếc cho nhiều người. Lễ an táng của anh do Giám Mục Phaolô Bùi Văn Đọc, giám mục giáo phận Mỹ Tho chủ sự và 20 linh mục đồng tế, đã nói lên lòng quý mến của hàng giáo phẩm Việt Nam đối với anh. Đây là một vinh dự rất hiếm thấy ở Việt Nam trước nay đối với một giáo dân.

Trở lại vấn đề “Làm thế nào ‘Để có những Trần Duy Nhiên mới’?”


Giáo hội, đặc biệt giáo hội Việt Nam hiện nay cần rất nhiều Trần Duy Nhiên. (Và hẳn nhiên cần rất nhiều Hoàng Quý, Nguyễn Chính Kết... Nhưng đây là một vấn đề khác, người viết sẽ nói tới khi có dịp). Vậy làm thế nào để “đào tạo” những Trần Duy Nhiên mới hay cụ thể hơn, làm thế nào nuôi dưỡng tinh thần dấn thân, phục vụ giáo hội của Trần Duy Nhiên? Đây là một nhu cầu khẩn thiết vì hơn 40 năm sau Công Đồng Vaticano II, giáo hội Việt Nam vẫn không có gì thay đổi. Giáo dân Việt Nam vẫn hoàn toàn thụ động chờ lệnh giáo sĩ; đa số giáo sĩ Việt Nam vẫn nghĩ mình là “Đức Kitô Thứ Hai,” không bao giờ sai lầm nên ít khi chịu trau dồi học hỏi về thần học, tín lý, đạo hạnh… sau khi lãnh nhận thừa tác vụ linh mục. Cả giáo sĩ và giáo dân gần như mù tịt về những gì xảy ra trong giáo hội Roma 45 năm qua. Đa số giáo dân chưa từng nghe nói gì về Công Đồng Vatican II…

Đọc bài “Để Có Những Giáo Dân Gương Mẫu” hay “Để Có Những Trần Duy Nhiên Mới” của linh mục Trăng Thập Tự Võ Tá Khánh trên mạng VietCatholic News ngày 14-02-1009, tôi rất vui mừng khi biết có linh mục ở Việt Nam hằng quan tâm đến vấn đề quan trọng nầy. Đây là mối ưu tư rất chánh đáng mà những người có trách nhiệm lãnh đạo giáo hội cần luôn luôn đặt lên hàng đầu. Do đó, tôi không ngần ngại nhìn vào sự thật của vấn đề và thẳng thắn góp thêm ý với linh mục Võ Tá Khánh.

Linh muc Võ Tá Khánh đề nghị “hy sinh và kinh nguyện:”


“Muốn cho những trí thức độc giả ấy có được đức tin còn phải có sự hỗ trợ của hy sinh và kinh nguyện. Càng nhiều người cầu xin ơn đức tin cho các trí thức, sẽ càng có nhiều trí thức đến với Chúa, cống hiến tài năng, sức lực và kinh nghiệm mình cho Thiên Chúa và Hội Thánh.”

CON ĐƯỜNG TRẦN DUY NHIÊN ĐI TÌM THIÊN CHÚA


Trước khi góp ý về cách thức duy trì tinh thần Trần Duy Nhiên, thiết tưởng cần tìm hiểu con đường Trần Duy Nhiên bước đi để tìm biết Chúa. Người viết không có dịp sống với anh, sinh hoạt trực tiếp hằng ngày với anh nhưng qua những tâm tình anh bộc lộ trên các bài viết về cuộc đời, bản thân, về những hoạt động của giáo hội Việt Nam trong thời gian qua, có thể hiểu được phần nào con người anh.

Con đường đi tìm Chân Lý, tìm biết Chúa của anh là con đường cá biệt và độc đáo, không giống ai hết, chiếm một thời gian khá dài sau tuổi trưởng thành. Có một thời anh phủ nhận Chúa bằng lối sống của mình. Rồi anh cảm thấy chơi vơi, lạc lõng, cảm thấy cuộc đời vô nghĩa. Rồi anh quay về với tâm tình của đứa con phung phá và ngạc nhiên nhận ra trong đời sống của mình, lúc nào Chúa cũng luôn kề bên, che chở và vui mừng mời đón anh trở về:


“Bạn từng nghe rằng Thiên Chúa là một người Cha nhân lành đang chờ đợi bạn trở về xin lỗi Người, để Người có thể mặc lấy cho bạn chiếc áo thượng hạng, mở tiệc ăn mừng vì tìm lại một đứa con hoang đàng... Sai rồi! Đấy chỉ là câu chuyện trong dụ ngôn! Nhưng trong thực tế cuộc đời, Chúa không hề đợi bạn trở về. Người vẫn theo sát bạn, quì dưới chân bạn mà khẩn cầu, mà xin bạn tha thứ cho Người, bởi vì Người đã xúc phạm bạn khi yêu thương bạn bất chấp mọi vết nhơ mà bạn đã tạo ra cho tâm hồn mình.”

Đấy Thiên Chúa của Trần Duy Nhiên là như thế. Không phải là Thiên Chúa bạn đọc thấy trong Thánh Kinh mà là Thiên Chúa do chính anh tìm ra trong cuộc đời gian truân, ba chìm bảy nổi của mình. Thiên Chúa của anh là Thiên Chúa của Tình Yêu và cuộc đời anh là chứng nhân của Tình Yêu đó. Anh tìm ra Thiên Chúa bằng phủ nhận, chối bỏ, bằng nghi ngờ, phân vân nhưng luôn luôn cố gắng tìm biết Chúa là ai. Đó là phương cách tìm ra Chân Lý của người trí thức thật sự. Thiên Chúa hiện hữu không phải vì người khác nói như vậy, dạy như vậy, hay rao giảng như vậy. Thiên Chúa có vì chính do anh vất vả tìm ra. Trần Duy Nhiên muốn nói về Thiên Chúa của mình theo cách nói của Anthony de Mello: “Tôi tin không phải vì những gì quý vị đã nói. Chính đích thân tôi đây đã được nghe tiếng Ngài.” Vậy Thiên Chúa của anh ra sao, giống hay không giống Thiên Chúa của người khác? Không thể nói được… Biết Ngài có đó, biết chắc, nhưng không nói lên được vì Thiên Chúa là để cảm nghiệm, không phải để diễn tả.

Chắc chắn trong khoảng thời gian dài đi tìm biết Chúa, Trần Duy Nhiên có hơn một lần chao đảo tự hỏi: Đức Ki Tô là ai? Ở đâu? Tại sao mình phải theo Người? Có Thiên Chúa hay không? Nếu không có Thiên Chúa thì sao?... (Mẹ Teresa thành Calcutta cũng đã trải qua những giây phút nầy.) Anh khẳng định: “Vì tôi tin Đức Kitô nên tôi thuộc về Giáo Hội Công Giáo chứ không phải vì tôi thuộc về Giáo Hội Công Giáo nên tôi phải tin vào Đức Kitô.”

Trên con đường đi tìm Chúa, tìm cho đời mình một ý nghĩa để sống, Trần Duy Nhiên đã may mắn gặp nhiều cơ duyên. Chúa đưa đến cho anh nhiều chứng nhân đánh động, giúp anh suy nghĩ và quyết định lựa chọn…

• Nếu không có một linh mục HĐA bất chấp nghi thức, quỳ xuống trước mặt anh để anh có dịp làm hòa với Chúa ngay lúc đó, sau một thời gian dài bỏ Chúa, bỏ đạo, bỏ nhà thờ thì con đường anh đi phải còn mất bao lâu nữa? Nếu thay vì quỳ xuống để tạo cơ duyên cho anh xưng tội ngay lúc đó, linh mục HĐA mời anh một ngày nào đó rỗi rãnh đến văn phòng gặp cha để nói chuyện nhiều hơn… thì sao? Liệu anh sau đó có đến để xưng tội, làm hòa với Chúa không?

• Nếu không có một linh mục Ngô Phúc Hậu, một linh mục Nguyễn Văn Đông, hay một linh mục Trần Sỹ Tín làm gương sáng phục vụ dân Chúa, tiên phong đi truyền giáo ở những nơi đèo heo hút gió, chưa biết Tin Mừng, nếu anh chỉ gặp các linh mục muốn làm cha chánh xứ, xây cất những nhà thờ “hoành tráng” để thờ phượng Chúa thì con đường tìm biết Chúa của Trần Duy Nhiên còn bao xa, anh có gặp được Chúa không?

• Nếu không có một linh mục Nguyễn Tiến Lộc hay một linh mục Nguyễn Thái Hợp biết quý trọng giáo dân trí thức như anh, liệu Trần Duy Nhiên có phát huy hết tâm sức mình để phục vụ giáo hội?

• Và còn nhiều gương sáng, chứng nhân khác anh đã gặp trong cuộc đời...

Con đường anh đi tìm biết Chúa gian nan, lắm lúc muốn buông trôi mặc cho thế sự cuộc đời đưa đẩy. Nhưng được Chúa nâng đỡ, anh tìm ra nhiều tia sáng ở những ngõ cụt của cuộc đời; và chính những tia sáng này đã chỉ đường dẫn lối, đưa anh về với Chúa. Thiên Chúa của anh không phải là Thiên Chúa chung chung được rao giảng trên tòa giảng hay một Thiên Chúa quyền uy thịnh nộ chờ trừng phạt kẻ vấp phạm, làm lỗi, nhưng là một Thiên Chúa yêu thương, sống động, gắn liền với cuộc sống của chính anh; không phải là một Thiên Chúa được phủ kín trong Tòa Nhà Tạm sơn son phết vàng với những chén vàng chén bạc để chiêm ngưỡng từ xa, “kính nhi viễn chi,” mà là Thiên Chúa của một đời sống phải phấn đấu để sống còn, vươn lên, đứng dậy sau khi ngã, và tràn đầy yêu thương quỳ bên anh để tha thứ lỗi lầm… Khi anh đã tìm ra Ngài rồi thì không gì có thể làm chia cách,. Đức tin của anh được thử thách và nhờ đó củng cố. Khi ý nghĩa đich thực của cuộc đời được tìm thấy sau những khắc khoải suy tư, sau những gian nan tìm kiếm thì người ta dễ dàng dấn thân cho lý tưởng. Con đường anh đi tìm Chân Lý là con đường của một người trí thức, trí thức đích thực chớ không phải trí thức ngụy trang dưới nhãn hiệu bằng cấp!

Trần Duy Nhiên là trường hợp khá đặc biệt ở Việt Nam. Đặc biệt vì hầu như con người là sản phẩm của xã hội mà Trần Duy Nhiên thì không! Trong bối cảnh sống đạo bằng kinh kệ, chiên trống, kèn kiệu, xây cất nhà thờ hoành tráng để thờ phượng Chúa, chờ lệnh cha mới dám làm, chờ cha dạy mới biết… thì Trần Duy Nhiên làm ngược lại những điều đó. Trong lần tham dự đại hội thần học giáo dân Á Châu năm 2003 (?), anh đã lên tiếng cảnh báo tác phong lãnh chúa của tầng lớp giáo sĩ ở lục địa này, làm đình trệ công việc truyền bá Tin Mừng. Trong vài bài viết khác, anh đã báo động cách sống đạo phô trương bề ngoài, qua việc xây cất nhà thờ hoành tráng bên cạnh sự cùng khổ của quãng đại quần chúng:

“Tôi đã nhìn thấy những thánh đường nguy nga giữa đám giáo dân nghèo hèn rách nát, và ngày ngày đám dân nghèo ấy phải đến thờ phượng một Thiên Chúa vô tâm, thật cao vời nhưng cũng thật dửng dưng trước cái khốn cùng của con người.” (Trần Duy Nhiên, “Mẹ Giáo Hội: Tự Hào Và Xót Xa,” Dấn Thân, bộ V, số 6, tháng 6, năm 2003).

NHỮNG “SỰ CỐ” LÀM NẢN LÒNG GIÁO DÂN MUỐN DẤN THÂN PHỤC VỤ GIÁO HỘI


Như Quản Trọng, một chiến lược gia thời Tam Quốc bên Tàu, đã nói, muốn trồng người cần có kế hoạch dài hạn cả trăm năm (“bách niên chi kế mạc như thụ nhân”). Nhưng từ 1960 đến nay, từ khi giáo hội Việt Nam được chính thức thành lập, nghĩa là gần nửa thế kỷ qua, dường như không có kế hoạch nào nhằm nâng cao sự hiểu biết về đạo của giáo dân Việt Nam. Được rửa tội vài ngày sau khi sanh, nhận bí tích thêm sức lúc còn niên thiếu, sau đó đi lễ nghe cha giảng mỗi ngày Chúa Nhật và ngày lễ, nhiều bài giảng nhạt nhẽo không đầu đuôi, không được chuẩn bị chu đáo… thế là biết đạo, hiểu đạo! Điều này cũng đúng ở nhiều giáo xứ/cộng đoàn Việt Nam ở Hoa Kỳ hiện nay. Hầu hết giáo dân Việt Nam được “huấn luyện” theo phương cách này ngày nay được giáo hội giao cho nhiệm vụ… truyền giáo thay thế hàng giáo sĩ bận chăm sóc nhà thờ và cử hành các phép bí tích!

Thật ra, dù ở trong nước hay hải ngoại, giáo dân như Trần Duy Nhiên thời nào cũng có và có nhiều. Không một tín hữu nào không muốn “nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.” Không một giáo dân trí thức nào không muốn dấn thân phục vụ giáo hội. Nhưng điều khác biệt là những người này không có may mắn như Trần Duy Nhiên, không gặp được những tia sáng ở những ngõ cụt cuộc đời hay cuối đường hầm, nhất là không mục kích những gương hy sinh phục vụ khích động họ khi họ cần đến nhất. Tệ hại hơn, có người đã để cho “những điều trông thấy” ảnh hưởng đến đức tin của mình: thay vì bền đỗ tiếp tục đi tìm Chân Lý thì… bỏ đạo!

Muốn chữa khỏi bịnh cần tìm đúng nguyên do gây bịnh. Xin ghi lại đây vài sự kiện đã khiến giáo dân Việt Nam trở nên thờ ơ với giáo hội của mình, trong nước và ở hải ngoại. Tôi muốn nói thành phần giáo dân trí thức, biết suy nghĩ, không chịu làm những con trừu Panurge vui vẻ chấp nhận “cung cách sống đạo cổ truyền Việt Nam,” không ưu tư, thắc mắc, không mù quáng vâng phục.

A. TRONG NƯỚC


Linh mục Nguyễn văn Lý.


Cha Lý tranh đấu cho tự do dân chủ, cho nhân quyền, dân quyền, công bằng xã hôi… cho đất nước và dân tộc Việt Nam. Linh mục bị bạo quyền kết án, tù đày. Hàng giám mục, giáo sĩ chẳng những không lên tiếng bênh vực mà còn tung tin về “đời tư” của cha Lý theo luận điệu của kẻ cầm quyền. Có người còn kết tội cha “làm chính trị,” “không vâng lời bề trên” (bề trên muốn “im lặng” mà cha lên tiếng? Bề trên muốn thảnh thơi lội xuôi theo dòng nước để được mát mặt, còn cha muốn lội ngược dòng?) Qua thái độ và hành động này, HĐGM muốn nhắn nhủ thông điệp gì đây? Một con ngựa đau cả tào bỏ chạy… vì sợ liên lụy, vạ lây? Khôn nhờ, dại chịu?

Thái độ im lặng gần như dửng dưng trước những bất công xã hội của HĐGMVN.


Trước tháng 4-1975, nhiều giáo sĩ xuống đường, lên tiếng chống sự tham nhũng của vài viên chức chính phủ hay tướng lãnh VNCH. Bây giờ tham nhũng công khai, 100 trăm phần trăm, cả guồng máy cầm quyền từ trên xuống dưới. Lớn ăn lớn, nhỏ ăn nhỏ; chức vụ càng cao thì càng tham nhũng. Vào Vơ Vét Về… nhưng không bao giờ cảm thấy đủ! Giáo hội/giáo sĩ cũng là nạn nhân như quãng đại quần chúng: Tài sản giáo hội bị tịch thu, ruộng đất của dân bị cướp, dân oan biểu tình khiếu nại, kêu oan… Lãnh đạo giáo hội áp dụng đường lối ba bịt: bịt mắt, bịt tai, bịt miệng. Phải chăng đây là bài học khôn ngoan biết sống, ở bầu thì tròn, ở ống thì dài? Nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc? Sống ở đời phải biết tùy lúc, địch nhu thì ta cương, địch cương thì ta nhu để bảo tồn lực lượng?

Cung cách sống đạo không phù hợp với hoàn cảnh nghèo đói của quần chúng và truyền thống của giáo hội.


Truyền thống của giáo hội luôn đứng về phía người nghèo khó, cô thế, là tiếng nói của thành phần bị áp bức để kêu gọi lương tâm con người thức tỉnh. Nhưng thực tế 30 năm qua ở Việt Nam, hố ngăn cách giữa người giàu, gồm đảng viên, cán bộ, và người nghèo, gồm đại đa số quần chúng VN, càng ngày càng rộng lớn. Trớ trêu thay “giáo Hội của người nghèo” đã đóng góp tích cực vào hình ảnh không tốt đẹp này qua các chương trình xây cất nhà Chúa hoành tráng! Đâu là ý nghĩa của sự đồng cảm, xót thương? Thật sự có phải vì Nước Trời mà người ta xây cất những nhà thờ hoành tráng, lộng lẫy, nguy nga, sơn son phết vàng? Cho Chúa hay cho người thế gian? (Đặt câu hỏi kiểu này liệu có bị chụp mũ là “chống cha, chống Chúa, chống giáo hội” không?)

Mục vụ hải ngoại và việc xây cất phô trương ở quê nhà.


Tình cảm quyến luyến, lá lành đùm lá lách của giáo dân gốc VN ở hải ngoại đối với giáo hội quê nhà đã biến “mục vụ hải ngoại” thành phong trào khiến nhiều giám mục, linh mục, tu sĩ Việt Nam xuất ngoại như… đi chợ. Tiền quyên góp do mồ hôi nước mắt của giáo dân ở nước ngoài đã được chi tiêu vô tội vạ cho những xây cất phô trương ở địa phương, điển hình nhất là giáo phận Bùi Chu và Thái Bình: ”tiền cho nhiều quá không biết làm gì” trong khi trẻ em trong giáo phận phải bỏ học vì nghèo, không tiền đóng học phí, người bịnh không tiền chạy thầy chạy thuốc…

Nhận huy chương Cọng Sản tặng phát.


Huy chương tặng phát là biểu tượng công sức đóng góp của cá nhân cho tổ chức. Bốn giám mục và một số giáo sĩ VN được Mặt Trận Tổ Quốc/Đảng CSVN tặng huân chương Đại Đoàn Kết Dân Tộc cuối năm 2007 nhờ công sức gì? Đóng góp cho ai, đảng CSVN hay dân tộc, đất nước VN? Người chết không thể từ khước, nhưng người đang sống hồ hỡi phấn khởi nhận lảnh huy chương thì hành động này có ý nghĩa gì? Linh mục quốc doanh nhận lảnh huy chương cọng sản thì hiểu được vì đó là những đảng viên cọng sản có công, trá hình len lỏi vào để gây thương tổn cho giáo hội. Còn giám mục, chẳng lẽ cũng vậy sao? Có cần phân biệt đảng Cộng sản và quốc gia, phân biệt ba triệu đảng viên cọng sản và 85 triệu dân VN? “Sống đạo trong lòng dân tộc” là sống với 85 triệu người VN hay chỉ sống với ba triệu đảng viên cọng sản đang nắm quyền?

Tương tự, cần phân biệt hàng giáo phẩm và giáo hội. Giáo hội là toàn thể

tín hữu, không phải chỉ là một thiểu số rất nhỏ thuộc hàng giáo phẩm mà

thôi!

B. Ở HẢI NGOẠI


Có người nói cộng đồng Công Giáo VN ở hải ngoại là… bộ phận không thể tách rời của Giáo Hội Mẹ Việt Nam! Nói theo xảo ngôn tuyên truyền của VC thì đây là khúc ruột ngàn dăm. Quan niệm này, nếu đúng về phương diện tình cảm thiêng liêng, thì không đúng về mặt giáo luật và thực tế: đàn chiên ở đâu thì thuộc mục tử ở đó; giáo dân ở đâu thì thuộc quyền cai quản, trông nom của giám mục địa phương đó. Giáo hội không có cảnh “mục tử chăn thuê.” Nếu có thì có với một nghĩa khác: “khi sói đến thì kẻ chăn thuê sẽ bỏ chiên mà chạy!” Nhưng chính sự “bắt quàng” này đã khiến cho “cộng đồng công giáo VN hải ngoại” có… màu sắc giáo hội quê nhà, rất ư là Việt Nam, dù đang sống ở những quốc gia dân chủ, tự do Tây phương!

Cuộc thảo luận về danh xưng CHA-CON.


Trên mạng TiengNoiGiaoDan năm 2004-2005, vấn đề danh xưng CHA-CON giữa linh mục và giáo dân được đem ra bàn thảo. Thay vì mừng vui vì thấy giáo dân nay đã trưởng thành thì có giáo sĩ phản bác trên căn bản quyền uy; thay vì là một cuộc thảo luận thân thiện, chân thành, cởi mở giữa anh em trong nhà để tìm ra đáp số thì đã trở thành cuộc tranh cãi nặng nề về từ ngữ với những ngôn từ thiếu nhã nhặn (cuộc đời của Trần Duy Nhiên trước khi tìm lại Chúa được lôi ra…). Cuộc tranh luận này khiến cho nhiều giáo dân trí thức VN ở hải ngoại kết luận rằng… giáo sĩ gốc VN vẫn không từ bỏ cương vị “làm cha” và “chơi cha!” Không thể có đối thoại khi một bên giở giọng cha chú, xem thường bên kia, bắt phải khoanh tay cúi đầu như cậu bé học trò nghe thầy dạy bảo!

Tập san Dấn Thân ở Houston.


Đây là cơ quan ngôn luận của Phong Trào Giáo Dân Việt Nam ở Houston, Texas. Tập san này có mặt ở Houston hơn 15 năm, khởi đầu xuất bản định kỳ 3 tháng một lần, rồi hai tháng một lần, rồi hàng tháng nhờ sự ủng hộ rộng rãi của độc giả có đạo Chúa và không theo đạo Chúa. Nhưng đùng môt cái, Dấn Thân chết tức tưởi vì “máu huyết” không còn. Một vài bài viết trên tập san “trái ý” với một số linh mục VN ở Houston – “trái ý” không có nghĩa là sai mà chỉ có nghĩa là không cùng lối suy nghĩ trước nay của hàng giáo sĩ -- thế là Dấn Thân bị trù đập, rỉ tai là tờ báo… “chống cha, chống Chúa, chống giáo hội!” Khách hàng quảng cáo nghe sợ quá, có người còn bị áp lực của “các con chiên ngoan đạo” phải ngưng quảng cáo, khiến tờ báo chết bất đắc kỳ tử.

Cờ vàng, cờ đỏ, “thói đời mang tính đối kháng”.


Lịch sự tối thiểu đòi hỏi người khách phải “nhập gia tùy tục!” Nếu sợ có vấn đề khi về gặp quan chức VC thì tốt nhất là không đi, không đến, không dự. Khách đến nhà mà đòi chủ nhà phải dẹp cờ, biểu tượng cho lý tưởng tự do của gia chủ, và tặng tiền cho mình tùy nghi sử dụng là điều khó tưởng tượng được. Đó là thái độ “làm cha” và “chơi cha,” cung cách hành động của quan đại thần phụ mẫu chi dân, “đến để được phục vụ,” không phải “để phục vụ!” Đã vậy còn gán cho mỹ từ “mục vụ hải ngoại!”

Đức Ông từ chức Chủ Tịch LĐCGVNHN vì nhà cầm quyền cộng sản không cho về Việt Nam.


Lý do thật buồn cười! Nếu chỉ có thế mà không dám làm chủ tịch Liên Đoàn thì sao dám nói đến chuyện theo chân các thánh tử đạo VN, “tử vì đạo?” Qua hành động này, giáo dân dù ngoan đạo cũng phải nghĩ: “khi sói đến sẽ bỏ chiên mà chạy trước!”

Vấn đề các linh mục đối xử với nhau.


Điển hình là linh mục NTS dòng CCT/VN bị dòng đăng báo khai trừ vì những lời nói vô trách nhiệm trong khi mang bịnh tâm thần. Đâu là nguyên do căn bịnh của ngài? Đâu là đức bác ái? Khi tỉnh trở lại, bịnh tâm thần có chiều hướng giảm bớt, cha muốn quên đi quá khứ, làm lại cuộc đời với bút hiệu khác, nhưng bị “bươi ra,” “vạch trần,” trong vụ tranh luận “CHA-CON” nói ở trên. Linh mục với linh mục mà còn đối xử với nhau như thế thì hạng giáo dân, tức “dân đen” trong giáo hội, đâu có giá trị gì đối với người có chức thánh!

Thái độ của một số giáo sĩ đối với giáo dân biết suy nghĩ.


Hai năm trước, khi một số giáo dân ở hải ngoại lên tiếng về việc HĐGMVN im lặng trước việc VC xét xử Linh mục Nguyễn Văn Lý nhơn dịp có các giám mục Việt Nam sang làm mục vụ hải ngoại ở Hoa kỳ. Trên mạng VietCatholic News, ngay sau đó, có đăng bài của đức ông và vài ba linh muc không ngần ngại “thú cách hóa” những giáo dân nầy, gọi họ là những con chó sủa bậy cắn càng, khá hơn một chút thì gọi họ là “tiên tri giả,” “sứ ngôn giả," “giáo gian,” “đạo theo,” “nối giáo cho giặc,” “con chiên ghẻ”..., hù dọa và nguyền rủa những giáo dân đã xúc phạm đến hàng giáo phẩm là “phạm tội thánh” sẽ bị Chúa phạt!

Lạm dụng quyền hành trên tòa giảng.


Tòa giảng dùng để rao giảng Lời Chúa, công bố những thông điệp của Tin Mừng hay sứ điệp Tình Thương. Ai cũng biết rõ điều này. Thế nhưng nhiều “quan linh mục” thay vì rao giảng Lời Chúa, đã dùng tòa giảng cho mục đích cá nhân như “mắng xéo,” “đuổi xô” giáo dân, những người không làm mình đẹp lòng đẹp ý, hay vì bất cứ lý do nào. Có linh mục đã dành trọn bài giảng để hài tội tác giả một bài báo, một đoạn văn, một bài thơ... vì nghĩ tác giả muốn ám chỉ mình. Sự lạm quyền nầy xảy ra ở Việt Nam trước nay và hiện tiếp tục ở... Hoa Kỳ theo đúng “cung cách sống đạo cổ truyền Việt Nam” mà nhiều người hãnh diện gìn giữ!



Trên đây chỉ là vài trường hợp tiêu biểu, trường hợp làm nản lòng rất nhiều giáo dân trí thức biết suy nghĩ khiến họ dù có thiện chí muốn dấn thân cũng buông trôi theo “thói đời khôn ngoan biết sống.” Đừng trách họ nếu họ quay lưng, thờ ơ với giáo hội. Không chối bỏ Chúa, bỏ đạo cũng đã là may mắn lắm rồi!

Vậy những người có trách nhiệm lãnh đạo giáo hội VN (xin gọi tắt là LĐGH) phải làm gì “để có những Trần Duy Nhiên mới” dấn thân phục vụ giáo hội? Trong cố gắng tạo điều kiện thuận lợi để có những Trần Duy Nhiên mới, vai trò của linh mục trông coi các xứ đạo là yếu tố rất quan trọng, nếu không phải là quan trọng nhất. Người giáo dân tiếp xúc hằng ngày với cha xứ. Lời nói, cử chỉ, hành động của linh mục này sẽ ảnh hưởng sâu đậm đến thái độ và mức độ dấn thân của giáo dân cho những hoạt động tông đồ. Vì vậy, trong bài viết này, LĐGH không chỉ bao gồm các giám mục mà luôn cả các linh mục, nhất là các linh mục trông coi các giáo xứ.

NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN “ĐỂ CÓ NHỮNG TRẦN DUY NHIÊN MỚI”


Người trí thức nào cũng có tài và có tật. Tài và tật đi liền với nhau. Nhưng cái tật của nguời trí thức là cái tật rất đáng yêu, cần có và phải có, vì cái tật đó làm cho họ trở thành người tri thức: SUY NGHĨ. Nhờ “suy nghĩ” mà xã hội tiến bộ, đời sống con người thăng tiến. Không muốn suy nghĩ, không dám suy nghĩ thì không phải là người trí thức. Lúc nào cũng “nhất trí,” lúc nào cũng chờ gọi để vâng, để dạ, bẩm lạy… là thái độ và cung cách của hạng nô dịch, dù có học đậu bằng cấp cao. Và hạng người này sẽ bỏ tổ chức để theo người khác, tổ chức khác khi gió xoay chiều, đổi hướng.

Giáo hội cần người trí thức. Tổ chức nào cũng cần người có trí thức, những người dám nói lên những suy tư của mình, dám nói sự thật, dám phê phán đúng sai. Mặt khác, người trí thức thật sự không thích bị sai bảo, kiêng kỵ quyền hành, chỉ muốn làm người cộng tác trên căn bản bình đẳng và tự do. Những tổ chức độc tài toàn trị thù ghét giới trí thức vì lẽ đó: họ cần nô dịch, tôi đòi, cần người tùng phục, nhất trí để cảm thấy hơn người, không dám dùng người cộng tác trên căn bản nói thật vì sợ trí thức thấy cái sai của mình. Các chế độ độc tài toàn trị không nhằm đào tạo trí thức mà chỉ cho ra lò những nô dịch chuyên môn có cấp bằng đại học!

Khác biệt về ý kiến là điều tự nhiên khi tổ chức lớn mạnh. Đơn vị tổ chức xã hội nhỏ nhất là gia đình gồm hai vợ chồng, vẫn có thể có hai ý kiến khác nhau, không thể tránh khỏi. Khác ý kiến giữa các thành viên trong tổ chức còn là dấu chỉ của sự trưởng thành. Đứa bé một hai tuổi ít khi làm trái lời cha mẹ, nhưng khi lớn khôn hơn thêm vài tuổi, có sẽ có ý kiến khác với cha mẹ nhiều hơn, cứng đầu hơn và chỉ chấp nhận khi thấy “hữu lý”.

Cho nên, nếu thật sự muốn có những Trần Duy Nhiên mới tích cực dấn thân phục vụ giáo hội, LĐGH cần thay đổi tư duy, thay đổi lối nghĩ, cách nhìn để tạo những điều kiện thuận lợi cho “tinh thần Trần Duy Nhiên” nẩy mầm, vươn lên và phát triển.



• Tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích giáo dân trưởng thành về phương diện học đạo, sùng đạo và sống đạo. Đạo không phải chỉ là kinh kệ, kèn trống, sang lễ chiều kinh. Vai trò giáo dân không phải chỉ là “vâng phục, cầu nguyện và đóng tiền.”


• Chấp nhận sư khác biệt trong tổ chức. Vui mừng xem đây là dấu chỉ của sự trưởng thành. Chấp nhận ”bất đồng” mà “hòa nhi” hơn là “đồng nhi” mà “bất hòa.”


• Không đồng hóa chức linh mục với giáo hội và Đức Kitô để không có tình trạng giáo dân bị chụp mũ “CCCC” khi có ý kiến trái với linh mục. Có vậy mới phát huy sáng kiến nơi thành phần đông đảo giáo dân còn mặc cảm rụt rè, sợ bị cầm buộc...


• Không xem “không đồng ý” là “chống đối.” Thật sự hai cụm từ nầy không có nghĩa giống nhau. Vậy tại sao có nhiều người cố tình hiểu lệch lạc? Mặc cảm cha chú, kẻ cả, quân xử thần tử, không ai có quyền hơn mình vì mình là giám mục, linh mục?


• Người trưởng thành khi làm lỗi phải dám nhận lỗi. Một linh mục nhận mình làm lỗi làm tăng giá trị của mình, tàm tăng sự quý mến, cảm phục từ giáo dân. Linh mục cũng là phàm nhân dù có chức thánh. Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II đã nhiều lần công khai xin lỗi.


• Linh mục làm gương sáng bằng hành động tốt lành:


o Tin những gì mình đọc (Lời Chúa dạy)

o Giảng những gì mình tin

o Thực hành những gì mình giảng.


• Đào tạo từng lớp giáo sĩ mới có “tinh thần phục vụ” thay vì “làm quan linh mục.” Linh mục vốn là quà tặng của Thiên Chúa. Xin đừng biến chức linh mục thành gánh nặng cho giáo dân. Nhân dân VN đã quá đói khổ vì sự lộng hành của quan chức nhà nước cọng sản rồi.


• Thường xuyên nâng cao trình độ hiểu biết của giáo dân về đạo, về những chương trình hàng năm của Tòa Thánh, về những cải tổ của giáo hội…


• Giáo dân được ủy thác trách nhiệm truyền giáo phải được huấn luyện chu đáo, hiểu biết rõ đạo để người ngoài đạo hay tân tòng theo học đạo không có cái nhìn sai lạc về đạo Chúa.




Dù giải pháp đề nghị để giải quyết vấn đề “Làm thế nào ‘Để có những Trần Duy Nhiên mới?’” có khác nhau -- thật ra có thể bổ túc nhau -- ít ra linh mục Võ Tá Khánh và người viết bài nầy có một điểm chung là cùng quan tâm đến vấn đề trọng đại của giáo hội Việt Nam hiện nay. Một vài cánh én bay lượn trên bầu trời chưa đủ tạo nên mùa Xuân… chúng ta cũng cứ làm. Hy vọng sẽ mời gọi được thêm những con én khác còn đang nằm trong tổ ấm sớm nhập đàn… để cùng tạo nên mùa Xuân cho giáo hội Việt Nam.

Tập thể giáo dân trí thức như (xin chỉ kể tên vài người tôi biết) Trần Duy Nhiên, Hoàng Quý, Nguyễn Chính Kết, Michael Thái Bình (nguyên chủ bút Tập san Dấn Thân, hiện đang truyền giáo ở Thái Lan) và vô số giáo dân trí thức khác nữa trong nước và hải ngoại (mà tôi chưa có dịp quen biết)... là nguồn lực vô giá của giáo hội VN. Huy động, tận dụng nguồn năng lực này là trách nhiệm của LĐGH. Xin đừng để lãng phí hay rỉ sét.

Muốn có một tầng lớp giáo dân trưởng thành, LĐGH cần phải tạo điều kiện cho chính mình trưởng thành trước. Nếu không, hiện tượng mũ nón C4 sẽ tung bay mịt trời! Không thể có những người theo (followers) trưởng thành, nếu không có những người lãnh đạo trưởng thành. Giáo dân, bất cứ thành phần nào, cũng sẵn sàng hy sinh và tích cực nối gót dấn thân, theo chân người lãnh đạo biết nói và dám nói “Hãy theo tôi!” (Follow me!). Hãy theo tôi vì tôi sẽ đi hàng đầu, đi trước và đi cùng các bạn; tôi không bỏ chạy khi sói đến; tôi là gương mẫu. Lãnh đạo theo cách “Hãy tiến lên!” – các bạn tiến lên trước đi, phần tôi sẽ tính sau – không bao giờ mang lại kết quả!

Trong những ngõ cụt của cuộc đời mỗi người, hành động tốt lành, gương mẫu của người lãnh đạo tinh thần sẽ là ánh sáng soi đường dẫn đưa giáo dân ra khỏi vùng tăm tối. Nó là vật xúc tác, chất keo kết chặt giáo dân và giáo sĩ để cùng dấn thân phục vụ Thiên Chúa và giáo hội.

Cầu nguyện là điều cần thiết.


Nhưng nếu chúng ta chỉ biết cầu nguyện rồi phó thác mọi sự khác cho Chúa làm thì e rằng kết quả khó đạt được, nhất là khi vấn đề do chính chúng ta tạo nên. Người xưa rất khôn ngoan khi nói “tận nhân lực rồi mới tri thiên mệnh.” Con người phải tận lực giúp mình trước rồi mới cậy nhờ Thiên Chúa. Cái chúng ta cần cầu nguyện ngay bây giờ là cầu xin Chúa Thánh Thần soi sáng, dẫn dắt các đấng bậc lãnh đạo giáo hội sáng suốt, mở lòng mở trí lắng nghe và đón nhận ý kiến đóng góp của mọi người, nhất là từ giáo dân để làm tốt đời đẹp đạo!

Hy vọng những thủ đoạn tráo trở và mị dân trắng trợn của nhà cầm quyền CSVN trong thời gian 15 tháng qua -- trong vụ chiếm đoạt tài sản giáo hội ở Tòa Khâm Sứ, Giáo Xứ Thái Hà, Dòng Nữ Tử Bác Ái Thánh Phao Lồ, nhất là việc cắt xén, bẻ cong lời phát biểu chân tình và yêu nước của Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, Tổng Giáo Phận Hà Nội, của chủ tịch UBND thành phố Hà Nội và hệ thống truyền thông nhà nước -- đủ làm thức tỉnh hàng giáo phẩm Việt Nam để xét lại phương cách “sống đạo giữa lòng dân tộc” sao cho phù hợp với quyền lợi đích thực của đất nước và dân tộc?

Xin ghi lại lời ĐGH Phao Lô VI để chúng ta cùng suy nghĩ: “Con người thời đại ngày nay không cần những ông thầy rao giảng mà cần chứng nhân của Tin Mừng. Nếu họ chấp nhận những người rao giảng Tin Mừng chẳng qua là vì những người này cũng là chứng nhân thật sự.”

Mong lắm thay!





T.B. Người viết chỉ là một giáo dân tầm thường, không đủ tiêu chuẩn bằng cấp cũng như khả năng suy tư và đạo hạnh để được xếp vào thành phần “trí thức.” Nhơn đọc bài viết của Linh mục Trăng Thập Tự Võ Tá Khánh trên VietCatholic News, mạo muội góp nhặt, trình bày những “lời quê” của mình để quý độc giả mua vui. Nếu có điều chi sơ xuất hay phạm thượng vì lời nói chân thật không biết rào đón, xin quý độc giả và các đấng bậc trong giáo hội tha lỗi. Đa tạ.