Email: ToaSoan@tiengnoigiaodan.net

ĐỨC TIN CAO CẢ CỦA NGƯỜI THIẾU PHỤ CANAAN


SUY NIỆM PHÚC ÂM ( A 40 ); ( 14.08.2005); ( Mt 15, 21-28)
CHÚA NHẬT XX PHỤNG VỤ THƯỜNG NIÊN, NĂM A


NGUYỄN HỌC TẬP

Đoạn Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay thuật lại cho chúng ta cuộc gặp gở giữa Chúa Giêsu và người thiếu phụ Canaan.

Câu dẫn nhập xác định nơi chốn biến cố xảy ra, ở vùng Tiro và Sidon, phần đất hầu hết do dân ngoại giáo cư ngụ, so với vùng Giudea là nơi cư ngụ của dân Do Thái chính thống:

- “ Ra khỏi đó, Chúa Giêsu lui về miền Tiro và Sidon, thì có một thiếu phụ Canaan, ở miền ấy ra đi, kêu lên: …” ( Mt 15, 21).

Cấu trúc của cuộc gặp gở được Thánh Matthêu thuật lại theo nguyên bản Hy Lạp, dựa trên động từ “ trả lời ” của Chúa Giêsu được lập đi lập lại bốn lần:

- “ Người không đáp một lời nào ” ( Mt 15, 23),
- “ Người đáp: Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Israel mà thôi ” ( Mt 15, 24),
- “ Người đáp: không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con ” ( Mt 15, 26),
- “ Bấy giờ Chúa Giêsu đáp: Nầy chị, lòng tin của chị mạnh thật. Chị muốn sao thì sẽ được như vậy ” ( Mt 15, 28).

1 - Trước lời van nài lần đầu Chúa Giêsu không trả lời: “Người không đáp lại một lời ” ( Mt 15, 23).

Thoáng đọc qua, chúng ta có cảm tưởng là Chúa Giêsu không đếm xỉa gì đến lời kêu cứu của người thiếu phụ.

Và có lẽ đó cũng là cảm tưởng của các môn đệ, nên các ông vội đứng ra can thiệp và được Chúa Giêsu trả lời cho các ông:

- “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Israel mà thôi ” ( Mt 15, 24).

Câu nói trên là câu nói lập lại những gì Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ ở nhiều dịp khác:

- “ Tốt hơn hãy đến với các con chiên lạc nhà Israel ” ( Mt 10,6),
- “ Thầy bảo thật anh em, anh em chưa đi hết các thành của Israel, thì Con Người đã đến ” (Mt 10, 23b-24).

Nhưng trước lời xin dai dẳng của người thiếu phụ, sau cùng Chúa Giêsu trả lời, nhưng là câu trả lời từ chối:

- “Bà ấy đến bái lạy mà thưa với Ngài rằng: Lạy Thầy, xin cứu giúp con!”.
- “Người đáp: Không nên lấy bánh dành cho con cái, mà ném cho lũ chó con ” ( Mt 15, 25-26).

Thái độ thinh lặng lúc đầu và rồi thái độ khước từ vừa kể vẫn không làm cho người thiếu phụ Canaan giải giới đầu hàng. Trái lại chị càng chứng tỏ đức tin của mình mãnh liệt không gì có thể lay chuyển được:

- “Thưa Thầy, đúng thế, nhưng lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống ” ( Mt 15, 27).

Lòng tin mãnh liệt đó được Chúa Giêsu xác nhận:

- “Nầy chị, lòng tin của chị mạnh thật. Chị muốn sao thì sẽ được như vậy ” ( Mt 15, 28).

2 - Trong phần dẫn nhập, Thánh Matthêu đã xác định vị trí địa dư, nơi xảy ra biến cố cuộc gặp gở, miền Tiro và Sidon, vùng đất của dân ngoại.

Không những vậy, Thánh Matthêu còn nêu rỏ xuất xứ của người thiếu phụ, người Canaan, là sắc dân tuy sống trên phần đất hứa của dân Do Thái, nhưng là dân sùng bái bụt thần, nên người Do Thái nên xa lánh, đừng giao tiếp với họ để khỏi bị lây lối thờ phượng lệch lạc của dân ngoại.

Đặc tính Canaan của người thiếu phụ, nói lên tính cách con người ngoại đạo của nàng.

Tuy vậy, điều làm cho Chúa Giêsu chú ý và được Thánh Matthêu ghi lại, đó là lời chào hỏi của nàng là chính lời chào hỏi của các người Do Thái chính thống:

- “ Lạy Ngài là con vua David, xin dủ lòng thương con! Đứa con gái con bị qủy ám, khỗ sở lắm ” (Mt 15, 22).

Lời chào vừa kể là lời chào của chính người Do Thái đối với những bậc vương giả, như đã nói. Lời chào đó, chúng ta có thể gặp ở một vài chương Phúc Âm kế tiếp, khi Chúa Giêsu đến Gierico, phần đất của Giudea, nơi chính dân Do Thái cư ngụ:

- “Và kìa có hai người mù ngồi ở vệ đường, vừa nghe Chúa Giêsu đi ngang qua đó, liền kêu lên rằng: lạy Ngài, lạy con vua Đavid, xin dủ lòng thương chúng con! Đám đông quát nạt bảo họ im đi, nhưng họ càng kêu lớn hơn nữa: Lạy Ngài, lạy con vua Đavid, xin dủ lòng thương chúng con ” ( Mt 20, 30-31).

Như vậy người thiếu phụ ngoại đạo hành xử như chính người Do Thái, nhận biết Chúa Giêsu là Đấng đã đến để thực hiện những gì Thiên Chúa đã hứa cho Israel, dân mà chính Thiên Chúa đã chọn làm dân riêng Ngài, từ thời tổ phụ Abraham: “lạy Ngài là con vua David !”

3 - Đọc các câu đối thoại trên giữa Chúa Giêsu và người thiếu phụ Canaan, chúng ta có cảm tưởng là giữa Chúa Giêsu và nàng có các tư tưởng đối ngược nhau.


Nhưng suy ngắm sâu xa hơn, chúng ta có thể nhận thức được rằng chính hình thức đối ngược bên ngoài đó là phương thức để Chúa Giêsu và nàng đối thoại nhau về bánh, con cái và các chó con.

Đề cập đến bánh là đề cập đến bàn tiệc của thời cánh chung, trong đó Thiên Chúa ban phát rộng rãi ơn phúc cho dân mọi người.

Đó là những gì chúng ta được Thánh Luca diển tả một cách rõ rệt trong Phúc Âm Ngài:

- “Nghe vậy, một người trong những kẻ đồng bàn nói với Chúa Giêsu: Phúc thay, ai được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa” ( Lc 14, 15).

Và hình ảnh dân chúng dự tiệc thời cánh chung cũng được Thánh Matthêu diển tả, khi thuật lại phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều, chúng ta mới suy niệm mấy tuần trước đây:

- “Rồi sau đó Người truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời,dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho các môn đệ. Và các môn đệ trao cho dân chúng ” ( Mt 14, 19).

Hình ảnh của bửa tiệc thời cánh chung được đâm sâu gốc rể vào tư tưởng của người thiếu phụ Canaan.

Bởi lẽ chị xác tín rằng ân sủng của Chúa ban cho thật dồi dào dư tràn: những gì YHWH (Yahwé) hứa ban cho dân của Ngài thật lớn lao, dư thừa cho tất cả mọi người.

Tình thương của Thiên Chúa thật bao la, không có cách gì chỉ có thể hạn hẹp dành cho một mình dân Do Thái.

Như vậy trong thời cánh chung, trong lúc YHWH đổ xuống ơn lành cho “ con cái ” Israel của Ngài, những ai chưa có thể được xác nhận là “ con cái ” cũng có thể được hưởng nhờ:

- “ Thưa Ngài, đúng vậy, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống ” ( Mt 15, 27).

Xác tín vừa rồi của người thiếu phụ ngoại đạo Canaan có lý chứng , nếu chúng ta lần giở lại trong Cựu Ước, nhứt là lời các ngôn sứ khi đề cập đến ơn cứu rỗi sắp đến, cứu rỗi cho cả các dân tộc ngoại bang. Một trong những ví dụ, chúng ta đã có ở bài đọc thứ nhứt của sách tiên tri Isaia:

- “ Người ngoại bang nào gắn bó cùng Thiên Chúa, để phụng sự Người và yêu mến Thánh Danh, cũng trở thành tôi tớ Người. Hết những ai giữ ngày sabat mà không vi phạm, cùng những ai tuân thủ các giao ước của Ta, đều được dẫn lên núi thánh và được cho hoan hỷ nơi nhà cầu nguyện của Ta ” ( Is 56, 6).

Trong đoạn sách tiên tri Isaia vừa đọc cũng như trong câu đối đáp của người thiếu phụ Canaan trong Phúc Âm ở trên, chúng ta thấy rằng việc Thiên Chúa tuyển chọn Israel làm dân riêng Người và chọn đền thánh Giêrusalem là nơi thờ phượng Người vẫn không có gì thay đổi, bởi vì chính nơi dân Israel là nơi hồng ân cứu rỗi Thiên Chúa được phát sinh, nơi con người Chúa Giêsu dòng dỏi David, trong lãnh địa Israel và tại đền thánh Giêrusalem là nơi mà mọi dân tộc phải đến để thờ phượng Ngài:

- “…nhưng lũ chó con cũng được ăn những mảnh bánh vụn trên bàn chủ rơi xuống ” ( Mt 15, 27),
- “Người ngoại bang nào gắn bó cùng Thiên Chúa…đều được dẫn lên núi thánh và được cho hoan hỷ nơi nhà cầu nguyện của Ta ” ( Is 56, 6).

Nhưng được thông hiệp với Thiên Chúa, không nhứt thiết phải tùy thuộc dòng giống của một dân tộc nào:

- “Người ngoại bang nào gắn bó cùng Thiên Chúa, để phụng sự Người và yêu mến Thánh Danh, cũng trở thành tôi tớ Người…” ( id.).

4 - Nếu vậy, thì tại sao trước tiên Chúa Giêsu có thái độ thinh lặng không trả lời và kế đến trước những lời van xin nằng nặc của người thiếu phụ Canaan, người phụ nữ ngoại đạo, lại tỏ ra thái độ từ chối?

- “Nhưng Người không đáp lại một lời ” ( Mt 15, 23),
- “Không nên lấy bánh dành cho con cái, mà ném cho lủ chó con ” ( Mt 15, 26).

Chúng ta có hai lý do để suy niệm cử chỉ của Chúa Giêsu đối với người thiếu phụ Canaan ngoại đạo.

- a) Trước hết cách hành xử của Ngài đã được Ngài giải thích cho các môn đệ trong Phúc Âm hôm nay: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc nhà Isarel mà thôi ” ( Mt 15, 24).
-
Và đó cũng là những gì Chúa Giêsu đã có dịp xác định trước đó: “Tốt hơn hãy đến với các con chiên lạc nhà Israel” ( Mt 10, 6).

Tư tưởng vừa kể có ý nói lên công cuộc cứu rỗi mà Chúa Giêsu đem đến, được thực hiện trong tiến trình của một dòng lịch sử cứu rỗi và của bao nhiêu lời Thiên Chúa tuyên hứa trước đó trong Cựu Ước.

Tin Mừng mới mẻ mà Ngài đem đến không phải là để xoá bỏ đi những gì đã được Thánh Kinh ghi lại, mà là để hoàn tất những gì Thiên Chúa đã hứa với Abraham, Isaac và Giacob và cũng không từ chối việc Ngài đã tuyển chọn Isarel làm dân riêng.

Nhưng rồi biến cố Phục Sinh, qua cuộc khỗ nạn thánh giá và sự sống lại của Ngài, vạch ra một khúc quanh và vói những đặc tính mới.

Thái độ khước từ của các vị thủ lãnh Do Thái trong tiến trình của biến cố Phục Sinh vừa kể đưa đến hậu quả là lời hứa trung thành của Thiên Chúa được thực hiện theo chiều hướng mới, không những thể hiện cho Israel mà cho cả những ai tìm kiếm Ngài và sống trung thành với Ngài:

- “Người ngoại bang nào gắn bó cùng Thiên Chúa, để phụng sự Người và yêu mến Thánh Danh, cũng trở thành tôi tớ Người ” ( Is 56, 6).

- b) Lý do thứ hai chúng ta có thể suy niệm về thái độ của Chúa Giêsu đối với lời cầu xin của người thiếu phụ Canaan ngoại đạo, chúng ta có thể dựa trên cử chỉ khác biệt của Ngài, thinh lặng và từ chối lúc ban đầu, so với cử chỉ để tâm chú ý của các môn đệ .

Trong khi Chúa Giêsu thinh lặng và từ chối giúp đở, trước lời khẩn xin của người thiếu phụ ngoại đạo, thì các môn đệ có thái độ chăm chú hơn và lên tiếng:

- “Xin Thầy bảo bà ấy về, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi ” ( Mt 15, 23b).

Theo nguyên bản Hy Lạp của Phúc Âm Thánh Matthêu, lời can thiệp của các môn đệ mang ý nghĩa mập mờ. Động từ “ bảo bà ấy về ” ( Hy lạp, apoluson : đuổi đi cho khuất mắt hay cởi trói, giải thoát).

Như vậy lời can thiệp của các môn đệ có thể có ý nghĩa là “xin Thầy làm vui lòng bà ấy, để bà ta đi về đi, cho khuất mắt”, “ …vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi ”. Có lẽ điều các môn đệ chú trọng hơn hết là được để yên, khỏi quấy rầy.

Nhưng Chúa Giêsu không làm phép lạ, chỉ vì lý do nhỏ nhặt đó. Thái độ thinh lặng của Chúa Giêsu cũng như câu trả lời từ chối của Ngài có lý chứng cho việc Ngài làm. Nếu chúng ta còn nhớ, ngay phần đầu của cuộc gặp gở, người thiếu phụ Canaan ngoại đạo đã chào hỏi Chúa Giêsu bằng chính lời chào của người dân Do Thái chính thống:

- “Lạy Ngài là con vua David, xin dủ lòng thương con ! ” ( Mt 15, 21).

Chúa Giêsu đã nhận thấy ngay đức tin của chị. Như vậy thái độ thinh lặng và cả thái độ khướt từ nghe lời van xin của chị là cách hành xử Chúa Giêsu dùng để làm cho đức tin của chị càng được bộc lộ hơn và càng được vững chắc hơn. Và đó là những gì đã xảy ra, lòng tin của chị đã nổ bùng lên, bất lay chuyển, trước câu nói từ chối của Chúa Giêsu:

- “Thưa Ngài, đúng vậy, nhưng lủ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống ” ( Mt 15, 27).

Trong khi đó thì oái oăm thay, cử chỉ của các môn đệ xin Chúa Giêsu thoả mãn lời van xin của người thiếu phụ, trên thực tế không phải vì chú tâm đến chị và lợi ích của chị cho bằng “…để bà ta đi cho khuất mắt” ( apoluson).

Chính lòng tin bùng nổ lên và bất lay chuyển của người thiếu phụ Canaan ngoại đạo qua câu nói vừa kể, được châm ngòi bằng cử chỉ thinh lặng và từ chối của Chúa Giêsu, là cơ hội đề cập đến bánh, đến bàn tiệc cánh chung, đến con cái, như chúng ta đã có dịp suy niệm ở trên.

Lòng tin mãnh liệt và cao cả đó của người thiếu phụ ngoại đạo, mãnh liêệ và cao cả vì xác tín vào nguồn ơn cứu rỗi bao la của Thiên Chúa, dư thừa cho dân Israel của Ngài, mà cũng dư thừa cho bất cứ ai tin tưởng vào Ngài, “Người ngoại bang nào gắn bó cùng Thiên Chúa,…cũng trở thành tôi tớ Người ” ( Is 56, 6).

Thiên Chúa không bỏ bất cứ ai đặt tin tưởng vào Ngài. Lòng tin đó đã khiến Chúa Giêsu cũng không cầm được lời khen ngợi:

- “Nầy chị, lòng tin của chị mạnh thật! Chị muốn sao thì sẽ được như vậy” ( Mt 15, 28).

Trong cả Phúc Âm chỉ có đây là lần đầu tiên và duy nhứt, Chúa Giêsu nức lời khen ngợi một đức tin mãnh liệt và cao cả, đức tin của người thiếu phụ ngoại đạo Canaan. Đức tin mãnh liệt và cao cả của người thiếu phụ ngoại đạo Canaan được Thánh Matthêu ghi lại để so sánh tương phản với đức tin bé nhỏ
  • của Thánh Phêrô: “Người đâu mà kém tin vậy! Sao hoài nghi?” ( Mt 14, 31),

  • của các môn đệ khi Chúa Giêsu làm phép lạ im lặng sóng biển: “Các ông lại gần đánh thức Người và nói: Thưa Thầy, xin cứu chúng con, chúng con chết mất! Chúa Giêsu phán: Sao nhát gan vậy, hởi những người kém lòng tin” ( Mt 8, 26),

  • của các môn đệ, khi các ông quên đem bánh: “Khi sang bờ bên kia, các môn đệ quên đem bánh. Chúa Giêsu bảo các ông: anh em phải cẩn thận, phải coi chứng men Pharisêu và Saduccei. Các môn đệ nghĩ thầm rằng: tại chúng ta không đem bánh. Biết vậy Chúa Giêsu phán: sao anh em lại nghĩ đến chuyện không đem bánh, người đâu mà kém tin vậy?” ( Mt 16, 5-8).

    So với đức tin của các môn đệ, đức tin của người thiếu phụ ngoại đạo Canaan không những mãnh liệt mà còn cao cả hơn. Cao cả:

    - bởi vì chị không hề chối cải chương trình hành động của Thiên Chúa, không đặt thành vấn đề tại sao YHWH chọn cho Ngài một dân riêng của Người, “ không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lủ chó con ”,
    - bởi vì dù cho sự hiện diện và tác động của Thiên Chúa trong lịch sử con người là biến cố khó hiểu đối với chúng ta, nhưng chị không bao giờ mất lòng tin rằng Thiên Chúa không thể là tình thương bao la , tràn đầy dư thừa đối với dân Ngài chọn, mà cũng dư thừa đối với bất cứ ai tìm đến Ngài, không phân biệt phái giống, chủng tộc, sang hèn, thông minh hay dốt nát,

    “Người ngoại bang nào gắng bó cùng Thiên Chúa, …cũng trở thành tôi tớ Người ” (Is 56, 6).

    Ơn cứu rỗi của Thiên Chúa dư thừa cho tất cả mọi người. Rất tiếc là người thiếu phụ Canaan ngoại đạo, chị chưa được Chúa Giêsu cho biết địa vị cao cả của con người, mà Ngài đã dạy chúng ta:

    - “Vậy anh em hãy cầu nguyện như thế nầy: Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời…” ( Mt 6, 9).

    Tất cả chúng ta đều là con Thiên Chúa và chúng ta là anh em với nhau.