|
|
MỤC VỤ HẢI NGOẠI
VÀ
NHỮNG LÀN KHÓI
Thạch Nguyên
Mục tử là người chăn chiên. Trong giáo hội công giáo, giám mục là mục tử săn sóc một đàn chiên lớn thuộc một giáo phận (giám mục giáo phận) và linh mục chính xứ hay cha sở là người được giám mục ủy thác để chăm sóc đàn chiên nhỏ hơn trong giáo xứ.
QUY ĐỊNH CỦA GIÁO LUẬT
Theo giáo luật, trừ những trường hợp đặc biệt được quy định, như giám mục giáo phận này kiêm giám quản một giáo phận khác (Điều 388), hay một linh mục có thể được ủy thác trông coi nhiều giáo xứ kế cận trong một giáo phận vì thiếu linh mục (Điều 526), mục tử chỉ có trách nhiệm và quyền hạn đối với chiên thuộc ràng của mình, không phải chiên thuộc ràng khác, hay giáo dân thuộc lãnh địa người khác. Chẳng hạn, giám mục giáo phận Thái Bình không thể tùy ý viếng thăm mục vụ giáo dân giáo phận Bùi Chu và ngược lại, trừ phi được Tòa Thánh Roma giao quyền giám quản khi giáo phận kia vì lý do gì không có giám mục.
Điều 529 ghi rõ, cha sở phải chu toàn trách nhiệm chủ chăn bằng cách siêng năng đi thăm viếng các gia đình trong giáo xứ để tìm hiểu, san sẻ những lo lắng, ưu tư, nhất là tang tóc của các tín hữu để an ủi họ trong Chúa.
Hàng năm, giám mục có bổn phận đi kinh lược tất cả hoặc một phần giáo phận, để trong vòng 5 năm có thể thăm viếng mục vụ được toàn thể giáo phận (Điều 396).
Cũng theo giáo luật, cứ mỗi 5 năm, giám mục phải về Roma để viếng mộ các thánh tông đồ Phêrô và Phaolô và yết kiến Giáo Hoàng để phúc trình về tình trạng của giáo phận mình (Điều 399 và 400).
Rõ ràng thăm viếng mục vụ để chăm sóc đoàn chiên là trách nhiệm của mục tử, giám mục giáo phận và linh mục chánh xứ. Giáo hội Chúa luôn cần những mục tử siêng năng, thường xuyên thăm viếng săn sóc đàn chiên, "Hãy chăn đàn chiên của Thầy."
MỤC VỤ HẢI NGOẠI
Từ cuối thập 80, vì lẽ sinh tồn của chế độ, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đã hé mở cửa cho luồng khí mới thổi vào. Nhờ đó, nhìều mục tử lớn nhỏ của giáo hội Việt Nam được dịp thực hiện các chuyến thăm viếng "mục vụ hải ngoại," nghĩa là thăm viếng những con chiên gốc Việt Nam... không còn thuộc ràng của mình.
Hẳn nhiên, như mọi tổ chức trần thế, giáo hội cũng có phẩm trật, và tùy theo phẩm trật của mục tử mà cuộc nghênh đón được tổ chức long trọng khác nhau, rềnh rang khác nhau, tiếng vang khác nhau và thành quả hay tổn thất, tùy cái nhìn của mỗi người, cũng khác nhau.
Nói chung, các chuyến "thăm viếng mục vụ" của các linh mục đối với "bổn đạo cũ" chỉ nhằm quyên góp tiền để đáp ứng "nhu cầu của giáo xứ, họ đạo bên nhà." Chuyến viếng thăm của giám mục hay cấp cao hơn thì mục đích cũng nhiều hơn, rộng rãi hơn, và được nhiều cộng đoàn cũng như Liên đoàn Công giáo Việt Nam quảng bá, tiếp nhận... hồ hỡi hơn vì, dù muốn dù không, những người này là đại diện cho giáo hội ở quê nhà đi viếng thăm đàn chiên lưu lạc, tha hương!
MỤC TIÊU THĂM VIẾNG MỤC VỤ HẢI NGOẠI
CỦA CÁC GIÁM MỤC VIỆT NAM
Chức vụ càng quan trọng khi người càng quan trọng và do đó, ý nghĩa của chuyến du hành cũng phải mang nhiều màu sắc và ý nghĩa quan trọng hơn.
Ba mục đích thường được các giám mục Việt Nam nhắc tới trong các lần du hành sang Hoa Kỳ, Canada, và Úc Đại Lợi:
1. Cám ơn các Hội Đồng Giám Mục (HĐGM) địa phương đã chăm sóc các cộng đồng công giáo Việt Nam suốt mấy chục năm qua.
2. Thăm viếng các cộng đồng công giáo Việt Nam, tức công tác mục vụ, làm nhiệm vụ của một mục tử chủ chăn.
3. Gây quỹ để tài trợ cho các chương trình mục vụ ở quê nhà, bao gồm các dự án xây cất, sửa sang, và các hoạt động nhân đạo, xã hội.
Theo giáo luật, khi giáo dân đến cư ngụ nơi đâu thì họ thuộc trách nhiệm săn sóc của đấng bản quyền sở tại. Khi chăm sóc giáo dân, dù là di cư hay là người bản xứ, HĐGM địa phương đã làm đúng nhiệm vụ của mình. Họ không "săn sóc dùm" cho GHVN. GHVN cũng không có thẩm quyền mục vụ đối với giáo dân gốc Việt Nam ở Hoa Kỳ, Canada, Úc hay bất cứ quốc gia nào khác ngoài Việt Nam. Không ai lại mở lời cám ơn ông bạn mình vì người này làm nhiệm vụ chăm sóc con cái của chính ông ta. Vậy hai mục đích "cám ơn" và "thăm viếng mục vụ" không có danh chánh ngôn thuận, và chỉ là cái bung sung cho mục đích thứ ba: quyên góp tiền bạc!
NHỮNG LÀN KHÓI TRONG CÁC CHUYẾN DU HÀNH
Khi Giáo Hoàng đương nhiệm qua đời, các hồng y mật hội bầu chọn người tiếp nối công việc của thánh Phêrô. Kết quả của mỗi lần bầu cử được thông báo ra bên ngoài bằng làn khói màu đen hay trắng (phiếu bầu đốt với hóa chất). Khói màu đen cho biết cuộc bầu cử không đưa tới kết quả: chưa ai có đủ số phiếu cần thiết. Khói màu trắng là tin mừng tân giáo hoàng đã được chọn. Tuy nhiên. khói có thể vì lý do này, lý do khác mà không có màu sắc trung thực khiến người đứng bên ngoài khó phân biệt trắng đen. Trước khi qua đời, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã thêm một nghi thức rất có ý nghĩa trong việc loan báo tin mừng: Khói trắng phải có tiếng chuông kèm theo để không ai lầm lẫn. Tiếng chuông xác quyết và canh thức!
Nước Việt Nam nghèo. Điều này thật rõ rang, và dù đã có một số tiến bộ nhờ chủ trương kinh tế đổi mới trong thời gian hơn 15 năm qua, Việt Nam vẫn còn thuộc danh sách phong thần 10 nước nghèo nhất trên thế giới, tính theo lợi tức đầu người hàng năm. GHCGVN do đó cũng nghèo... Người viết muốn nói đến đại đa số giáo dân Việt Nam.
Nhu cầu của GHVN quá nhiều, nhất là nhu cầu truyền giáo. Trong thời gian nửa thế kỷ qua, mặc dù tổng số giáo dân có gia tăng theo nhịp tăng chung của dân số, tỷ lệ người công giáo ở Việt Nam so với tổng số dân cư dường như vẫn không thay đổi, vẫn trong khoảng 7-10% theo các con số ước lượng. Không thể nào thỏa mãn tất cả nhu cầu cùng một lúc, giáo hội cần có thứ tự ưu tiên, nhu cầu khẩn thiết cần được đáp ứng trước, nhu cầu không quan trọng hay chỉ là ước muốn của hàng giáo phẩm không cần phải thỏa mãn ngay. Nhu cầu có giới hạn, nhưng ước muốn thì vô lường.
Máu chảy ruột mềm…
Trong giai đoạn đầu gần 10 năm, kể từ đầu thập niên 90, cái nhu cầu/ước muốn cấp bách của giáo hội hay ít ra của một số người có trách nhiệm lãnh đạo GHVN dưới cái nhìn của nhiều giáo dân Việt Nam ở hải ngoại là XÂY CẤT, càng nhiều càng tốt, ngay cả những nơi không cần thiết. Giám mục, linh mục, nam nữ tu sĩ lũ lượt thay phiên nhau xuất ngoại như đi chợ, kêu gọi lòng thương xót của giáo dân Việt Nam may mắn đang định cư ở hải ngoại, rộng tay đóng góp, dâng cúng tiền bạc. "Dâng cúng" vì đây là những số tiền dâng làm quà cho Chúa, cho giáo hội Chúa, dù hơn một lần Chúa đã nói rõ, "Ta muốn lòng nhân chớ đâu cần tế lễ" Mt 9:13; 12:7, "Trời là ngai ta, đất là bệ chân ta. Trời và đất, tất cả thuộc về Thiên Chúa. Thiên Chúa không cần Đền Thờ" Is. 66:1-2.
Thành quả (hay hậu quả?) là nhiều nhà thờ, cơ sở tôn giáo dù còn tốt vẫn bị đập phá và thay thế bằng những nhà thờ, cơ sở to lớn hơn, tiện nghi hơn, hiện đại hơn cho phù hợp với nhu cầu của những người lãnh đạo GHCGVN ở trần thế. Từ Nam ra Bắc gần như ở tỉnh nào cũng có hiện tượng đập phá, xây cất, sửa sang xảy ra. (Theo VietCatholic News ngày 25/08/2004, trong năm 2003 Giám Mục Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Sang, Giáo phận Thái Bình, "đã xây mới hoặc sửa chữa 400 trong số 500 nhà thờ, nhà nguyện, nơi hành lễ bị hư hỏng trong giáo phận." Một thành tích kỹ lục!) Nhà thờ to thì nhà xứ phải đẹp, khang trang, có garage, có chỗ đậu xe. Garage, chỗ đậu xe không thể cứ để trống, khó coi, chứng tỏ người lãnh đạo không biết tiên liệu đúng nhu cầu. Cho nên, chẳng bao lâu, các số tiền quyên góp cho các công trình cải tiến xã hội như đào giếng nước, xây cầu... được thu gọn thành xe Mercedes, Lexus lộng lẫy... hay nhà thủy tạ trước Tòa Giám Mục dành cho chủ chăn và cho quan khách nhàn du thưởng lãm…
Nói cho trung thực và công bằng, không phải số tiền quyên góp nào ở hải ngoại cũng được sử dụng thiếu phân minh và vô trách nhiệm như trên; không phải giáo sĩ, hay tu sĩ nào được xuất ngoại quyên góp tiền lúc về cũng chi tiêu theo nhu cầu riêng của mình. Nhưng thực tế, nhiều nhà thờ hư nát không được giáo phận giúp tiền sửa chữa; nhiều dòng tu thiếu thốn, nhưng linh mục, tu sĩ không có cơ hội xuất ngoại quyên góp. Rất nhiều giáo sĩ, tu sĩ… được dịp xuất ngoại như đi chợ thì sử dụng tiền kiếm được, nhờ hảo tâm của giáo dân Việt Nam ở hải ngoại, như "công khó của mình" cho những công trình xây cất, sửa sang không cần thiết hoặc CẤT nhiều hơn XÂY…
Có khi số tiền quyên góp ở hải ngoại được dùng vào việc cho vay sanh lời để giúp tài chánh cho cha xứ/giáo xứ trong dài hạn. Nhưng cũng có trường hợp tiền bị giựt mà người cho vay không dám lên tiếng, chỉ đấm ngực kêu trời vì... há miệng mắc quai, tay đã... nhúng chàm! Có khi tiền quyên góp được dùng xây cất nhà cho "ông bà Cố," mua sắm xe hay hùn hạp làm ăn... Trăm phương, nghìn cách!
Không ai biết rõ bao nhiêu phần trăm tiền quyên góp được sử dụng hữu ích và theo đúng như lời trình bày lúc kêu gọi. Cũng không ai biết tỷ lệ phải chia cho các quan quyền địa phương là bao nhiêu. Trong những năm đầu, có giáo sĩ, tu sĩ ngây thơ bị trấn lột lấy hết tiền quyên góp ở ngoại quốc khi về đến phi trường Việt Nam vì không biết cách chia, hay vì không khai báo đầy đủ. Một đàng có quyền, một đàng có công... đi xin, dân nghèo không hưởng được bao nhiêu.
Chỉ tội cho những người đóng góp ở hải ngoại, phần đông là các ông bà cụ già hưởng trợ cấp xã hội, ở với con cháu không tốn kém, nên không biết dùng tiền làm gì, và một số thương gia năm nào cũng khai lỗ! Một nữ tu đã chia sẻ kinh nghiệm đi xin tiền giáo dân Việt Nam ở Hoa Kỳ như sau: Các người đi làm thì ít cho, có cho cũng ít. Cứ tìm đến các ông bà cụ hưởng tiền già, nói ngon nói ngọt thì kiếm 500, 1000 đô la không khó... Cái mặc cảm tội lỗi "không làm mà hưởng," "không đóng góp mà nhận..." đã khiến cho người già rộng tay với... Giáo Hội Mẹ ở quê nhà? (Trước nay người viết nghĩ Giáo Hội Mẹ là Giáo Hội Roma, Giáo Hội hoàn vũ, và giáo hội địa phương là giáo hội ở mỗi quốc gia. Nếu gọi giáo hội Việt Nam là Giáo Hội Mẹ thì giáo hội Hoa Kỳ nơi có giáo dân gốc Việt Nam cư ngụ là giáo hội Cha hay giáo hội Con? Và giáo hội hoàn vũ là giáo hội gì? Người dùng từ "Giáo Hội Mẹ" có ẩn ý như trong câu hát "quê hương mỗi người có một, mỗi người có một mẹ thôi?")
Những cuộc thăm viếng thường xuyên và ồn ào của giám mục, linh mục, tu sĩ Việt Nam đã khiến nhiều giám mục giáo phận ở Hoa Kỳ quan ngại khi biết rằng giáo dân gốc Việt Nam chỉ rộng tay với "Giáo Hội Mẹ Việt Nam" mà không rộng tay với giáo hội Hoa Kỳ đang định cư, hay đối với những nhà truyền giáo nước khác đến xin quyên góp. Người Việt Nam có câu "ăn cây nào rào cây nấy." Thật đúng! Thế sao cây ổi, cây mận thì ta rào, còn cây nho, cây táo thì ta không? Rất ít khi nghe các linh mục chánh xứ hay quản nhiệm cộng đoàn Việt Nam ở Hoa Kỳ cổ võ cho sự quyên góp để truyền giáo ở các nước khác. Nếu có, cũng không nồng nhiệt lắm vì sợ giáo dân cắt phần tiền đáng lẽ phải đóng cho nhà thờ của mình. Đạo Chúa cũng mang màu sắc chủng tộc? HĐGM Hoa Kỳ sẽ nghĩ sao về giáo hội Việt Nam, hàng giáo phẩm Việt Nam, nhất là những giáo sĩ và giáo dân gốc Việt đang định cư ở Hoa Kỳ, nghĩ sao về những "Chứng Nhân Tin Mừng" từ xa đến?
Do đó, trong những năm gần đây, nhiều giáo phận Hoa Kỳ, nơi có nhiều giáo dân gốc Việt Nam cư ngụ, quy định các cuộc quyên góp ở các nhà thờ, giáo xứ hay cộng đoàn Việt Nam phải xin phép trước. Quy định này tương đối dễ áp dụng đối với những giáo sĩ, tu sĩ từ Việt Nam sang (dù vậy vẫn có nhiều trường hợp ngoai lệ, tùy theo liên hệ giữa người đến và linh mục chánh xứ hay quản nhiệm cộng đoàn), nhưng rất tế nhị và khó áp dụng đối với các cuộc "thăm viếng mục vụ" của hàng giáo phẩm khác như giám mục, tổng giám mục và hồng y.
Sau 10 năm gây quỹ và đóng góp cho các công trình xây cất cho GHVN, giáo dân gốc Việt Nam ở hải ngoại đã thấy rõ "thành quả" lòng tốt của mình nên đã chán ngán và nghi ngờ ẩn ý của các cuộc "thăm viếng mục vụ"... trật đường, "những làn khói" với màu sắc không minh bạch. Do đó, các cuộc viếng thăm của giám mục Việt Nam trong 5 năm qua đã chuyển sang mục tiêu khác dễ nói hơn: Yễm trợ các chương trình nhân đạo, y tế nhằm xoa dịu đau thương, giúp người bất hạnh, binh tật, nạn nhân của bất công xã hội…
Trong bài viết đăng trên Nguyệt San Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, số tháng 7 năm 2005, "Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II & Những Làn Khói," linh mục Nguyễn Tầm Thường đã nói đến những làn khói ở cuối sân nhà thờ, ẩn hiện trong các cuộc quyên góp tiền, fund raising, trắng không ra trắng, đen không ra đen, mờ mờ ảo ảo, những làn khói gây hoang mang, nhiều nghi vấn...
"Đây là nguyên tắc không thể thay thế: Dù tu sĩ hay giáo dân, khi tham dự vào các fund raising thì công việc này phải là những làn khói trắng vô cùng rõ ràng, không thể xám."
Một tiếng chuông cảnh thức! Ai có tai thì nghe!
MỘT CON NGỰA ĐAU...
Chủ trương của bất cứ chế độ độc tài toàn trị nào, bất cứ đâu, cũng là "chia để trị." Có gây chia rẽ thì lực lượng địch, tức quần chúng nhân dân, mới không có sức đối kháng, và thế lực cầm quyền nhờ đó mới vững chắc, tồn tại lâu dài. Hơn ai hết, các chế độ cộng sản biết rõ ảnh hưởng của tôn giáo, nhất là những người lãnh đạo chân tu, đối với tín đồ, giáo dân. Cộng sản vô thần và tôn giáo không thể chung sống được. Cộng sản Việt Nam (CSVN) luôn luôn tìm cách chia rẽ tôn giáo, giữa tôn giáo này và tôn giáo khác, và cả trong nội bộ của một tôn giáo. Từ sau ngày cướp được chánh quyền ở miền Bắc 1955, và sau đó trong Nam 1975, CSVN luôn luôn cố gắng trong việc tạo dựng một "GHCGVN quốc doanh," tay sai của đảng và nhà nước theo kiểu "giáo hội yêu nước" ở Trung Hoa, nhưng thất bại. Cách khác dễ thực hiện hơn là chia rẽ GHCG và các tôn giáo khác cũng như "hủ hóa" hàng giáo phẩm. Phải nhận rằng người CSVN đã thành công về phương diện này và thành công lớn!
Mới đây, ngày 20-08-2005, trong cuộc phỏng vấn của chương trình phát thanh RFA về đại hội Thánh Mẫu La Vang, linh mục Nguyễn văn Lý đã phát biểu rất xác đáng:
"Những Đại hội như vậy thì nhà nước tạo điều kiện để cho càng đông càng tốt. Nhà nước ước mong để các Đức giám mục về La Vang đông chừng nào hay chừng đó, và các linh mục về La Vang cũng thế để nhà nước có một hình ảnh mà nói với quốc tế rằng nhà nước đang cho Giáo hội Công Giáo được tự do, và nhà nước cũng muốn thế giới hiểu rằng Giáo hội Công Giáo đang hỗ trợ nhà nước. Nhà nước đang đeo đuổi một chính sách khôn khéo để lợi dụng uy tín của các giáo hội mà tồn tại lâu thêm một thời gian nữa. Cho nên nhà nước Việt Nam hôm nay không giới hạn các sinh hoạt tôn giáo như kiểu đây, miễn là Giáo hội ấy nếu không ủng hộ nhà nước rõ ràng thì ít nhất Giáo hội ấy cũng đừng cản trở gì cả. Tuy nhiên nhà nước Việt Nam giữ chặt một số các điều rất cơ bản mà các tôn giáo không sao có được. Điều cơ bản nhất đó là tự do ngôn luận."
Khi những người lãnh đạo giáo hội, hàng giáo phẩm, bị tha hóa bằng nếp sống xa hoa vật chất được hưởng những ơn huệ đặc biệt như xuất ngoại, khi giáo hội bị tục hóa qua những hành động buôn thần, bán thánh thì giáo dân mất lòng tin, lãnh đạo không còn hữu hiệu, kêu gọi không ai nghe. Người cộng sản đứng ngoài vỗ tay, cổ võ…
Trong nước cũng như ngoài nước, ai cũng biết chế độ chính trị Việt Nam hiện nay không chấp nhận tự do tôn giáo và nhiều thứ tự do căn bản khác. Hoạt động các tôn giáo, trong đó có GHCG, đều bị trói buộc bằng Pháp Lệnh Tôn Giáo và Tín Ngưỡng ký ngày 29-6-2004 trong việc sống đạo, hành đạo, truyền đạo, chọn tu sinh, truyền chức... Người lãnh đạo tinh thần các tôn giáo khác như Phật giáo, Tin lành, Phật Giáo Hòa Hảo… bị bắt bớ, giam cầm, quản chế, nhà thờ bị giựt sập, đập phá thì GHVN được tự do xây cất nhà thờ, giám mục được tự do xuất ngoại du hành, thăm viếng mục vụ chiên... của người khác.
Làm sao các giám mục VN xuất ngoại như đi chợ có thể giải thích cho các giám mục địa phương ở nước mình thăm viếng là VN không có tự do tôn giáo? Người ngoại quốc đến VN trong các dịp lễ lớn như Phục Sinh, Giáng Sinh, nhìn thấy sự rầm rộ tổ chức của GHVN, của các nhà thờ VN làm sao dám nghĩ rằng người dân VN không có tự do tín ngưỡng? Lên tiếng kêu gọi, tranh đấu cho tự do tôn giáo ở VN trước nay trong hàng giáo sĩ cũng chỉ có mấy linh mục Nguyễn văn Lý, Phạm văn Lợi, Nguyễn Hưu Giải, Chân Tín..., và một vài giáo dân hoạt động với tư cách cá nhân. HĐGM lúc nào cũng im hơi lặng tiếng, an nhiên tự tại, khôn ngoan chủ trương "không làm chánh trị"... Các tôn giáo bạn bị khủng bố, bắt bớ, không nghe các ngài lên tiếng bênh vực hay ủng hộ cho cuộc tranh đấu chung vì đó là... hành động chính trị?
thể hiện tình đồng cảm, xót thương của đạo Chúa. Huống chi cả tàu ngựa đều đau, trong đó có ngựa của các ngài. Thế mà...
Những "người được sai đi" đã... đi sai?
"Một giáo hội không bị bách hại nhưng được hưởng đặc quyền và hỗ trợ bằng của cải thế gian, hãy coi chừng! Đó không phải là giáo hội của Đức Ki Tô " (TGM Oscar Romeo).
Giáo Hội Công Giáo Việt Nam không thể tách rời khỏi dòng sanh mệnh của dân tộc, nhưng phải đồng hành, hòa nhịp.
THAY LỜI KẾT
Đến Sài-gòn, nhìn cảnh rộn rịp với hàng trăm ngàn xe gắn máy đủ loại, du khách không thể hiểu được tai sao Việt Nam là một trong 10 quốc gia nghèo nhất trên thế giới, trừ phi đi về miền thôn quê, đi sâu vào đời sống dân chúng. Nhìn các tòa giám mục tiện nghi hiện đại, con số các nhà thờ được xây cất, sửa sang trong hơn 10 năm qua và vẫn còn tiếp tục, làm sao tin được GHCGVN là một giáo hội nghèo và hàng giáo phẩm Việt Nam có tinh thần nghèo khó! Đó là hình ảnh đích thực của giáo hội Đức Kitô?
"Nhân chương trình, kế hoạch giúp đỡ giáo hội quê nhà, có người đã nhắc tới nghị quyết 36 của chánh phủ CSVN. Nghị quyết 36 là một nghị quyết ăn có, áp đặt, tự nhận Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại là một phần của nước VNXHCN, là khúc ruột ngàn trùng, được quản trị, săn sóc bởi Nhà Nước CSVN, tài lực trí lực của người Việt hải ngoại là tài sản của nước VNXHCN. Theo tinh thần đó và trong phạm vi tôn giáo thì giáo hội công giáo ở Việt Nam đã áp dụng nghị quyết đó một cách triệt để và trung thành nhất, thành công nhất. Chẳng thế mà CSVN đã để cho các giám mục, linh mục, nam nữ tu sĩ đi "thăm" giáo dân hải ngoại càng nhiều càng tốt."
Trần Công, "Về Các Cha Già Hưu Dưỡng TGP Sài gòn".
Trong bài "Ý Nghĩa Cuộc Sống của Những Người Công Giáo Việt Nam Định Cư Tại Hoa Kỳ" (Tiêngnoigiaodan.net), Nguyễn văn Nội đã dùng hình ảnh ví von so sánh người công giáo Việt Nam ở Hoa Kỳ với vai trò nàng dâu hai vai nặng gánh:
"Có thể nói người công giáo Việt Nam ở Hoa Kỳ giống như một nàng dâu, phải một lúc đảm đang công việc của một bên là giang san nhà chồng, và của một bên kia là của chính gia đình mẹ đẻ ruột thịt của mình (double mission). Giang san nhà chồng là xã hội và giáo hội Hoa Kỳ, còn giang san nhà mình là đất nước và giáo hội Việt Nam."
Tội nghiệp cho nàng dâu Việt Nam lấy chồng... Mỹ. Theo truyền thống văn hóa, mẹ Việt Nam dạy con gái: xuất giá thì tòng phu, lấy chồng thì phải biết lo lắng chăm lo giang san nhà chồng (vì con gái là... con người ta!). Nhưng nàng dâu Việt Nam, hai vai hai gánh, chịu khó tiện tặn, chắt chiu từng xu, nhiều khi còn phải xin tiền bên chồng, rồi dành dụm gởi về cho mẹ ở Việt Nam. Nay xin thì mai gởi, năm này qua tháng nọ mà cuộc sống của anh chị em, cháu con bên nhà vẫn không thấy khá hơn… Còn mẹ lúc nào cũng đổi mới, tân trang, phấn son lòe loẹt, quần này áo nọ, nay xe mai cộ, hết đi viếng chỗ này đến đi chơi chỗ khác, nhàn hạ thảnh thơi... Dù tình ruột thịt gắn bó, chắc cũng có lúc người con gái Việt Nam phải đành cắn răng mượn lời của Tôn Thọ Tường mà thưa:
Anh hỡi Tôn Quyền, anh có biết?
Trai trung thờ chúa, gái theo chồng!
|