GIÁO HOÀNG BIỂN ĐỨC XVI, MỘT 'HỒNG Y THIẾT GIÁP'
HAY MỘT GIÁO CHỦ NHÂN ÁI?


Hoàng Quý

TÌNH THẾ SÔI ĐỘNG


Nhân dịp chuẩn bị Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam, các nhà tranh đấu cho tự do dân chủ cũng như tự do tôn giáo, các cơ quan truyền thông ngoại quốc và quốc nội đều thi công lên tiếng phê bình, chỉ trích những sai lẫm và tệ trạng tham nhũng của những giới chức cầm quyền trong Đảng Cộng sản VN và đề nghị những đường hướng sửa sai. Cũng cùng thời gian này dấy lên cao trào cảnh báo chính quyền về các tội trạng buôn bán trẻ em VN tại Đông Nam Á và xuất cảng các cô dâu sang Đài Loan. Các cao trào đòi quyền tự do dân chủ, tự do tôn giáo và quyền làm người cho đúng nhân phẩm... đang dâng cao như thế, thì hầu như hàng giám mục VN không thấy một vị nào lên tiếng đòi hỏi những nhu cầu thiết thực này cho các tín hữu cũng như cho dân tộc. Trước những bức xúc và day dứt này, kể cả xấu hổ nữa, một số tín hữu đã gửi bài về cho trang nhà tiengnoigiaodan.net nói lên những phẫn uất của mình trước hàng giám mục VN. Chưa bao giờ tôi thấy có những bài viết gay gắt với Hội đồng Giám mục VN như hiện nay.


Thêm vào đó, tôi cũng nhận được một số điện thư đề cập về lời công bố của vị Giáo hoàng đương kim gọi các giám mục im tiếng trước các bất công, các tệ đoan xã hội là những con chó câm và còn mở ngoặc đơn chua thêm tiếng Pháp và tiếng Anh là Chiens muets - dumb Dogs nữa kia. Tôi hồ nghi tác giả lời trích dẫn vừa rồi lại là Vị đương kim Giáo hoàng. Tôi vội vàng gọi điện thoại cho người bạn xem anh có hay biết 'chuyện' này không? Thì hóa ra tôi là kẻ tụt hậu. Anh cho tôi biết câu nói thời danh và sôi nổi gọi các giám mục là những con chó câm này đúng là của ĐGH Biển Đức hồi ngài còn là Hồng Y Ratzinger đã trả lời cho nhà báo Seewald trong cuốn Salz der Erde xuất bản năm 1997 và mới được Nguyễn Hồng Lam và Trần Hoành dịch và vừa phát hành vào tháng 4-06 này với nhan đề "Muối Cho Đời." Tôi xin anh gửi cho tôi nguyên văn đoạn trích đăng do một linh mục mới chuyển cho anh. Và sau khi tôi đưa lời trích đăng này vào bài viết "Từ Susanna tắm trong vườn đến bài ca Người Tôi Trung," nhiều anh em đã và đang khai thác tận tình đoạn văn "để đời" này.


Một vài ngày sau tôi đi tìm mua cuốn sách dịch. Cuốn sách dầy đúng 300 trang, gồm ba chương. Tôi bỏ qua chương I đề cập "Về con người" để đi ngay vào chương II với "Những vần đề của Giáo hội Công giáo," với hy vọng tìm cho ra đoạn văn nổi danh trên, tuy nhiên vẫn không thấy. Tôi tiếp tục đọc chương III. Đọc hết chương ba, tôi mới chỉ tìm thấy một phần của đoạn trưng dẫn (chữ đậm):

"Có lẽ con người cảm nhận được rằng, để chống lại hệ thống tầm thường đang ngự trị trên thế giới, cần phải có đối lập và Giáo hội có thể trở thành hiện đại bằng cách không chạy theo lối sống hiện đại, lên tiếng chống lại trào lưu tư tưởng chung. Giáo hội mang sứ mệnh ngôn sứ phản kháng và phải có can đảm đóng đúng vai trò đó. Chính cái can đảm nói lên sự thật là sức mạnh lớn lao của Giáo hội, cho dù lúc đầu có vẻ tác hại làm mất vẻ dễ mến của Giáo hội, đẩy Giáo hội tới chỗ cô lập" (Muối Cho Đời, tr. 251).


Tôi sốt ruột phải trở lại đọc chương I để tìm cho bằng được đoạn văn trích dẫn còn lại. Thật hồi hộp, đọc tới trang 85 tôi mới thở phào nhẹ nhõm với đoạn văn dài hơn và còn phong phú hơn nữa. Tôi xin phép được trích đăng cả lời phỏng vấn lẫn đoạn trả lời nảy lửa của Hồng y Ratzinger sau đây:


Điều nổi bật là thái độ của ngài đối với tình trạng luân lý đương thời sau khi bước lên ghế giám mục. Ngài thường nói đến chuyện phá huỷ truyền thống và cái chân chính. Ngài đả kích một số lực li tâm đang gây ra tình trạng hỗn loạn. Hồi đó có lẽ không ai lên tiếng phê bình thời đại triệt để và gay gắt như ngài. Ngài cảnh giác về nạn của cải và hưởng thụ đang bóp nghẹt con tim hoặc nói về cái cười nhạo của ma quỷ đang xuất hiện đàng sau bao nhiêu biểu hiện của thời đại. Cái gì khiến ngài hành xử như vậy? Ngài có tiên cảm nào về tương lai không? Tại sao lại phê bình xã hội gay gắt như thế?


"Ngày nay người ta nói nhiều về vai trò ngôn sứ của Giáo hội. Từ ngữ đó đôi lúc bị lạm dụng. Nhưng đúng là Giáo hội không bao giờ được phép chạy theo thời. Giáo hội phải nói lên cái xấu và cái nguy của thời đại; phải nhắc nhở lương tâm các kẻ có quyền, cả những người trí thức, và cả những kẻ thờ ơ hẹp hòi trước những nỗi thống khổ của thời đại. Là giám mục, tôi thấy có nhiệm vụ phải làm chuyện đó. Lại nữa tình trạng suy đồi quá hiển nhiên: đức tin mệt mỏi, ơn gọi tu trì sút giảm, luân lý đạo lý xuống cấp ngay cả trong giới giáo sĩ, tình trạng bạo lực càng ngày càng gia tăng... Lời Chúa trong Kinh Thánh và những lời của các giáo phụ như vang lên trong đầu tôi, kết án nặng nề những mục tử nào làm chó câm để tránh bị phiền toái và vì thế để cho nọc độc lan tràn. Im lặng không phải là bổn phận hàng đầu của người công dân và riêng tôi, tôi kinh sợ cảnh một giám mục chỉ biết an phận, chỉ lo làm sao để tránh phiền phức và lấp liếm xung đột.


"... Tới nay tôi vẫn mừng là khi còn ở Munchen tôi đã không né tránh xung đột, vì như đã nói, nín thở qua sông theo tôi là lối lãnh đạo tồi nhất. Ngay từ đầu tôi biết ở Rôma tôi sẽ phải làm những công việc chẳng dễ chịu chút nào. Nhưng tôi có thể nói rằng tôi đã không ngừng tìm đối thoại và nỗ lực đó đã mang lại rất nhiều thành công..." (Muối cho đời, tr. 85-86).

HỐNG Y THIẾT GIÁP


Với những giọng văn mạnh mẽ và gây cấn vừa rồi, quả thực Hồng Y Ratzinger xứng hợp với cái tên người ta chế ra gọi ngài là "Hồng y thiết giáp." Ngài là người Đức trọng "nguyên tắc một cách quá khích và thiếu linh động" (Muối cho đời, tr. 87). Chẳng lạ gì Cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II là vị giáo hoàng lên tiếng cảnh báo thế giới nhiều hơn bất cứ triều đại giáo hoàng nào vì phía sau hậu trường, ngài có bộ óc suy nghĩ cương nghị và phong phú của Hồng y Ratzinger trong hai mươi ba năm giữ chức Bộ trưởng Giáo lý Đức tin.


Nhà báo Seewald, một người đã xa lìa Giáo hội từ lâu, trong Lời Mở Đầu cũng nhìn nhận Hồng y Ratzinger: "Hồng y Joseph Ratzinger là một giáo sĩ ưa tranh luận song cũng bị lắm chỉ trích, đặc biệt nơi quê hương ông. Tuy nhiên, nhiều nhận định và phân tích trước đây của ông giờ đây đã thành sự thật, đúng cả tới những chi tiết. Và hiếm có ai đau lòng ý thức về những mất mát và thảm kịch của Giáo hội trong thời hiện đại cho bằng vị hồng y thông minh xuất thân từ vùng đồng ruộng bang Bayern (Đức quốc) này."


Hình ảnh "Hồng y thiết giáp" lại hiện nguyên hình nơi Giáo chủ Biển Đức XVI khi chỉ sau 100 ngày đăng quang giáo hoàng, ngài đã thẳng thắn cánh báo các Giáo hội Công giáo vào ngày 25-7-05 tại Thánh đường Introd, Aosta và được đăng tải trên tờ nhật báo chính thức của Vatican "L' osservatore Romano": "Giáo hội truyền thống Tây Phương có vẻ như đang chết từ từ vì xã hội thế tục càng ngày càng xa rời và không thấy cần Thiên Chúa nữa."


Giáo chủ Biển Đức XVI đã nói với một số đông giáo sỹ tại miền núi Alps bên Ý nơi Ngài nghỉ hè rằng: "Thật là khác lạ trong thế giới Tây Phương, một thế giới mệt nhọc với chính văn hoá của mình, một thế giới mà con người càng ngày càng tỏ ra không cần đến Thiên Chúa, mà cũng chẳng cần gì đến Chúa Giêsu nữa. Những Giáo Hội gọi là 'truyền thống' xem ra như đang hấp hối... Những Giáo Hội đang bị khủng hoảng như vậy là Âu Châu, Úc Châu và Hoa Kỳ. Tuy nhiên không phải chỉ có đạo Công Giáo bị như vậy mà Giáo Hội Tin Lành cũng bị ảnh hưởng nặng hơn nữa. Không thấy có giải pháp nào mau chóng và thần diệu cả để cứu vãn giúp Giáo Hội chúng ta cả. Chúng ta phải cố gắng kiên nhẫn 'đi qua đường hầm này' (thời kỳ đen tối) với niềm tin mãnh liệt là Chúa Giêsu sẽ là câu trả lời và sau cùng ánh sáng của Ngài sẽ chiếu tỏ cho chúng ta."


Trả lời câu hỏi của vị Giám Mục tại Aosta đề cập về những vấn đề liên quan đến linh mục, đặc biệt là ơn gọi linh mục tại Phi Châu và Á Châu nở rộ dễ dàng trong khi tại Âu Châu thì xuống dốc thê thảm. Giáo Chủ Biển Đức XVI thẳng thắn nhắc nhở: "Sự mừng vui của hàng giáo phẩm các vùng đó cũng bị pha lẫn với nhiều đắng cay vì một số 'ứng viên linh mục' chỉ muốn tìm tòi một đời sống tốt hơn mà thôi. Trở thành linh mục, là họ trở thành như một ông tù trưởng (head of a tribe) của một bộ lạc, đương nhiên được hưởng mọi đặc quyền và có một lối sống khác. Cỏ lùng lẫn lộn với lúa mì trong cánh đồng ơn gọi. Các Giám mục phải biết để ý phân biệt tốt xấu không chỉ hớn hở với số linh mục sẽ có trong tương lai mà còn phải phân biệt giữa cỏ xấu và lúa tốt nữa."


Điều gây ngạc nhiên là những lời cảnh báo này Giáo chủ Biển Đức vừa rồi hầu như không được một cơ quan truyền thông Công giáo nào đăng tải cả, ngoại trừ trang nhà tiengnoigiaodan. Nhưng lần này, tình hình đã thay đổi vì càng ngày người ta càng nhìn ra Giáo hội Công giáo Việt Nam có vẻ ù lì trước những vấn đề bi đát và nóng bỏng của đất nước. Do đó, những lời cảnh báo nghiêm khắc của hồng y Ratzinger với hàng giám mục đã bùng nổ vang rền như những hồi trống ngũ liên báo động Giáo hội, đặc biết cho hàng Giám mục Việt Nam trước những thảm họa và những tệ trạng đang ùa vào tràn ngập Giáo hội và đất nước.

NGƯỜI CHA CHUNG NHÂN ÁI



Nhìn sang một hướng khác, trong bài báo của John Thovis đăng trên Orange County Catholic tháng 4-06 mang đầu đề "Nhìn lại một năm sau ngày đăng quang, thế giới đang nhìn xem phong thái mới của một triều đại giáo hoàng", sau một số lời dẫn nhập, tác giả hóm hỉnh nhận xét: "Giáo chủ Biển Đức thanh thản đóng giữ vai trò của mình. Những ai hy vọng những lời công bố giáo lý chặt chẽ mới, hoặc bứng rễ các giám mục cấp tiến và một cuộc canh tân phụng vụ, tất cả (giới bảo thủ) đều cụt hứng, thất vọng."


Ngài mới phát hành thông điệp chính yếu cho triều đại giáo hoàng của ngài đặt nền tảng trên sứ điệp Kitô giáo, đó là "Thiên Chúa là Tình yêu" (Deus Caritas est). Quả thực trong suốt một năm qua, các ưu tiên của ngài không thuộc lãnh vực cai trị hoặc quản trị hành chánh, nhưng ngài ôm ấp chương trình tưới rễ đức tin (water the roots of the faith) cho Giáo hội và cho thế giới.


Ngài hối thúc người Công giáo phải tái khám phá Chúa Giêsu làm trung tâm điểm cho cuộc sống mỗi người và chống cự lại các khuynh hướng biến cái tôi cá nhân thành "tiêu chuẩn độc nhất" cho các chọn lựa của mình. Ngài thận trọng dùng ngôn ngữ mời gọi hơn là cảnh báo: "Chúng ta luôn luôn đóng cửa nhà chúng ta lại; chúng ta luôn luôn muốn cảm thấy mình yên ổn và không muốn bị người khác hoặc Thiên Chúa khuấy động."


Ngài quay về Kinh Thánh hơn là giáo lý. Ngài muốn khôi phục lại các mối giây liên kết thân tình của các tín hữu thời Giáo hội tiên khởi để ứng dụng vào cuộc sống của các tín hữu nam nữ ngày nay đang phải chiến đấu cam go với cuộc sống niềm tin. Ngài thường xuyên trở lại chủ đề trung tâm, đó là các mối giây liên kết giữa Thiên Chúa và con người: "Đời sống con người là một chuỗi các giây liên hệ... và mối giây liên hệ nền tảng nhất chính là với Đấng Tạo Dựng, làm khác thế, tất cả các giây liên hệ khác chỉ là mong manh. Chọn Chúa chính là điều chính yếu nhất. Một thế giới trống vắng Thiên Chúa, một thế giới bỏ quên Thiên Chúa, chính là thế giới đang đánh mất cuộc sống mình và rơi vào nền văn hóa sự chết."

SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA NGƯỜI GIÁO DÂN VIỆT NAM



Vừa rồi là đầu đề của một bài viết nảy lửa mới đây của Nguyễn Anh Tuấn, nhà khoa học chính trị, đề cập về vai trò chủ động của tầng lớp giáo dân Việt Nam trước hiện tình Giáo hội và đất nước. Giữa thời đại dân chủ hóa toàn cầu, người dân trên thế giới càng ngày càng nắm lấy vận mệnh của mình từ trong gia đình tới Giáo hội và trong xã hội. Thật phi lý và ngược ngạo khi sống giữa thời đại người dân muốn đứng ra làm chủ lấy vận mệnh của mình, thì tại Việt Nam, chính quyền Cộng sản lại tước đoạt hầu như hết mọi quyền hạn của người dân. Người dân chỉ còn quyền "gọi-dạ-bảo-vâng." Thế là mọi chuyện yên ổn, dầu cho có phải sống khốn khổ như con vật.


Tương tự thế, trong Giáo hội Công giáo, tầng lớp giáo dân không còn mấy ai có ý thức dân chủ trong Giáo hội cả. Tất cả hình như đã quen với nếp sống truyền thống phong kiến từ xa xưa: tin cha hơn tin Chúa, đụng chạm đến cha là đụng chạm đến Chúa, chống cha là chống Chúa, vâng phục cha là vâng phục Chúa. Và hình như hàng giáo sĩ vẫn muốn duy trì não trạng phong kiến này trong Giáo hội và không muốn thăng tiến tầng lớp giáo dân để dễ bề cai trị. Và hậu quả là tầng lớp giáo dân hoàn toàn thụ động, sống lệ thuộc hoàn toàn vào cơ chế xin-cho từ cấp giáo xứ, cho tới giáo phận và toàn quốc.


Danh từ dân chủ hình như là một danh từ cấm kỵ trong Giáo hội. Năm 2005 trong Đại hội Giáo dân toàn quốc được tổ chức tại Houston, một linh mục thế gía đã ngang nhiên công bố Giáo hội đi theo thể chế quân chủ. Và như vậy đương nhiên tầng lớp giáo dân chỉ là bầy thần dân tuân phục chứ chẳng có một chút quyền hành dân chủ nào trong Giáo hội. Ý thức dân chủ hầu như không có đất sống trong Giáo hội và đa số tầng lớp giáo dân, kể cả nhiều chức sắc và nhiều nhà trí thức cũng vui vẻ chấp hành như thế! Hình như người ta muốn chấp nhận thế để còn có thể nương tựa và có đất sống trong đoàn thể, trong xứ đạo, trong giáo phận cũng như trên bình diện quốc gia!


Thêm vào đó, tầng lớp giáo dân cũng bị ảnh hưởng quá nặng nề của tâm trạng, của cố tật nghi ngờ, chia rẽ của người Việt Nam, nên tầng gớp giáo dân của các đoàn thể, các phong trào, các xứ đạo, các miền khó gầy dựng được những buổi gặp gỡ, trao đổi, thảo luận chung với nhau cho một chính nghĩa nào đó của tầng lớp giáo dân. Tầng lớp giáo dân trở thành một tầng lớp vô tổ chức, ô hợp, rời rạc, lạc lõng giữa Giáo hội, xã hội, đất nước và thế giới.


Giữa lúc cao trào dân chủ đang dâng cao khắp thế giới và đang ồ ạt áp đảo chính quyền Cộng sản tại Việt Nam trả lại nhân quyền cho toàn dân, phải chăng tầng lớp giáo dân Việt Nam không đặt lại sứ mệnh và vai trò lịch sử của mình trong Giáo hội cũng như giữa đất nước ngày nay?


Thật may mắn trong hơn thập niên vừa qua, nhiều anh em trong giới truyền thông đã can đảm đứng lên nắm lấy vận mệnh giáo dân của mình trong Giáo hội và giữa trần thế. Trong những ngày sắp tới, chúng tôi sẽ phối hợp với các cơ sở truyền thông giáo dân này nhằm phổ biến ý thức dân chủ cũng như sứ mệnh và trách nhiệm của tầng lớp giáo dân trước lịch sử. Chúng tôi cũng sẽ phổ biến bài viết độc đáo của Nguyễn Anh Tuấn như những gợi ý để mời tất cả mọi tầng lớp giáo dân, nhất là các giới chức, các nhà trí thức đóng góp ý kiến cho công cuộc phục hưng và thăng tiến tầng lớp giáo dân trong vai trò lịch sử của mình giữa Giáo hội và giữa đất nước chúng ta.


Xin Chúa chúc phúc cho thiện chí và các nỗ lực của chúng ta: "Bình an dưới thế cho người thiện tâm."