DANH XƯNG TRONG GIÁO HỘI V


CHỈ LÀ THÓI QUEN


Trần Mỹ Duyệt

Danh xưng cha / con mà người Kitô hữu, đặc biệt, Kitô hữu Việt Nam hiện nay vẫn dùng trong những giao tiếp thường ngày với các linh mục, đã được nhìn dưới nhiều lăng kính khác nhau: tôn giáo, văn hóa, xã hội, và tâm lý. Như đã khẳng định từ đầu, tác giả không bàn về danh xưng này dưới nhãn quan tôn giáo trong đó bao gồm những khía cạnh thần học hay tín lý, vì tác giả cho rằng lối xưng hô này thuần túy chỉ là một cách xưng hô được tạo nên do ảnh hưởng tâm lý, giáo dục, và xã hội. Xưng hô cha / con với một linh mục, do đó, không phải là một đề tài hoặc hành động liên quan đến tín lý hay đức tin. Từ nhận thức này, tác giả muốn tiếp tục khai triển và trình bày đề tài này dưới nhãn quan tâm lý giáo dục, tâm lý xã hội, và nếu có thể lấn qua một chút về tâm lý đạo đức.

TÍN LÝ VÀ THẦN HỌC


Phần đông người Kitô hữu ai ai cũng quan niệm và cho rằng chức linh mục là một thánh chức. Có thể nói rất ít người Công Giáo hoài nghi về năng quyền và bổn phận của một người sau khi đã được thụ phong. Dù người đó là gì, thế nào đi nữa xét về mặt luân lý và đạo đức, hoặc thông thái hay kém cỏi xét về mặt kiến thức và học vấn, sau ngày thụ phong vẫn mãi mãi là linh mục: “Con là linh mục đời đời”.

Nói thế, vì không phải hết mọi người sau khi lĩnh chức linh mục đều thánh đức và trọn lành. Sự thánh thiện và lòng đạo đức của linh mục nói chung đã được nữ thánh Tiến Sĩ Têrêsa D'avila nhận định: “Nền hỏa ngục được xây bằng sọ các linh mục.” Lý do và tại sao, chắc Thánh Nữ là người biết rõ nhất. Tuy nhiên, nhiều người trong chúng ta cũng có kinh nghiệm điều này khi giao tiếp, và làm việc với các linh mục.

Còn về khả năng trí tuệ và học vấn cũng thế. Không phải hết mọi linh mục đều là người thông thái và học thức uyên thâm. Các bạn hữu của tôi, các bạn hữu của bạn hữu tôi, con cháu chúng tôi. Những bác, chú, em và ngay cả những học trò cũ của chúng tôi hiện nay đang là linh mục, khả năng của họ như thế nào, chúng tôi biết rất rõ. Nhiều giáo dân chắc có cùng một nhận định; đặc biệt, khi nghe các linh mục thuyết giảng hay viết lách. Tuy nhiên, vấn đề kiến thức ở đây không quan trọng. Người Kitô hữu không hẹp hòi và chấp nê các linh mục về bằng cấp và học thức. Họ chỉ muốn nhìn thấy Chúa Giêsu nơi đời sống, ngôn ngữ, và hành động của các linh mục. Và đây có thể là một điều mà mọi người đều ngưỡng vọng nơi các linh mục.

Nhưng tại sao và vì lý do gì tôi và các Kitô hữu khác lại phải gọi một người bạn, người con, người cháu, người học trò của mình là “cha” và xưng “con” sau khi những người này lĩnh chức linh mục. Câu trả lời cho đến nay vẫn là thói quen trong cách xưng hô, một thói quen được tạo nên do những yếu tố về văn hóa, xã hội, và giáo dục tôn giáo. Tuyệt nhiện, không có căn bản thần học hay tín lý nào trong lối xưng hô như thế.

Tuy nhiên, nếu muốn đề cập về phương diện thần học, thì chức linh mục là một thánh chức, và nó phát xuất từ Đức Kitô, Linh Mục Thượng Phẩm và Linh Mục Đời Đời của Thiên Chúa Cha. Thánh Kinh đã gọi Ngài: “Con là linh mục đời đời theo dòng Menchisêđê” . Thánh Kinh ghi nhận, chính Chúa Giêsu Kitô là người thiết lập và trao năng quyền và thánh chức ấy cho các Tông Đồ khi Ngài phán bảo với họ: “Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Luca 22:19), ám chỉ quyền tế lễ của các linh mục, và “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha. Anh em cầm tội ai, thì người ấy bị cầm buộc” (Gioan 20:22), ám chỉ năng quyền tha tội. Hoặc sau này, trước khi về trời, Ngài đã truyền cho các ông phải ra đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân, ám chỉ quyền ngôn sứ : “Mọi quyền trên trời dưới đất đã được ban cho anh em. Hãy ra đi làm tông đồ cho muôn dân. Hãy rửa tội cho họ nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần” (Mathêu 28:18-19).

Vậy, ngoài Thiên Chúa ra không ai có quyền tha tội, tế lễ, và vì thế, chức linh mục có căn bản thần học và tín lý. Việc đặt tay của các Tông Đồ mà Tông Đồ Công Vụ đã nhắc đến, hoặc theo truyền thống Giáo Hội trong các nghi thức truyền chức là một hành động nối kết và làm tiếp tục việc thông ban mà Chúa Giêsu đã trao ban cho các Tông Đồ, và sau này các ông lại trao ban cho những người mà các ông cho là xứng đáng. Sự hiệp thông Công Giáo, thánh thiện và tông truyền này có cơ sở thần học.

THÓI QUEN HAY TRUYỀN THỐNG


Việc dùng một danh xưng để trao đổi, cảm thông, và tiếp xúc với một người là việc làm có tính cách văn hóa và xã hội. Cũng thế, việc xưng hô với một người sau khi lĩnh chức linh mục rõ ràng mang tính xã hội và văn hóa. Xưng hô sao để lột tả được sự kính trọng và yêu mến người đang đứng trước mặt mình không chỉ dành cho các linh mục mà là hết mọi người, kể cả một em bé.

Dưới cái nhìn tôn giáo, vì là sản phẩm của một nền văn hóa, và chịu ảnh hưởng của văn hóa, lối xưng hô cha / con mà người Công Giáo Việt Nam dùng để giao tiếp với các linh mục như thế đã trở thành một truyền thống văn hóa tôn giáo thấm nhập vào tận máu huyết, xương tủy của họ, đến nỗi có thể nói, bất cứ ai bây giờ mở miệng xưng hô với một người đã lĩnh chức linh mục ngoài tiếng cha / con đều cảm thấy ngượng miệng, và lúng túng. Điều này đã khiến có người tưởng rằng như thế là một tín lý. Tôi nhấn mạnh đến bốn chữ “Công Giáo Việt Nam” vì ngay là người Việt Nam, nhiều anh chị em ngoài Công Giáo cũng chẳng biết cha khác cụ. Cha khác cố đạo. Cha khác đức cha. Cha khác đức ông. Đức ông và đức cha ai hơn ai. Đức ông khác đức bà, và đức bà khác đức mẹ như thế nào. Họ xưng hô vì thấy người Công Giáo xưng hô, và trong lòng chắc là không có một ý niệm gì về từ cha / con mang ý nghĩa thần học. Vì thế, rõ ràng lối xưng hô là một hành động hoàn toàn có tính cách văn hóa, xã giao, giao tiếp xã hội. Địa vị của một người, chức vụ của một người, và tư cách của một người làm nên con người đó, chứ việc người khác gọi họ là gì không làm nên chính họ.

Nhiều người Công Giáo Việt Nam sinh ra đã là Công Giáo. Trong những thập niên đầu, và gần đây nhiều người đã được rửa tội 3 ngày hoặc 1 tuần sau khi sinh. Cứ thế, họ lớn lên trong một gia đình có đạo và trở thành người có đạo. Những người Công Giáo này đã lớn lên đương nhiên thấm nhập lối xưng hô ấy, và coi đó như một phần sống đạo của mình, và vì thế, nếu có ai muốn gọi linh mục bằng một lối xưng hô khác với lối xưng hô mà họ đã quen xử dụng, không những họ cho là một sự thiếu hiểu biết, mà còn coi đây như một hành động chống phá và xúc phạm đến đạo giáo của mình vậy. Đối với họ, những ai cả gan dám gọi linh mục là anh, là em, là bạn, là con, là cháu, nếu không đáng ghét, thì cũng là phường “chống cha, chống Chúa”, Tin Lành, cấp tiến, hoặc không am hiểu tín lý và giáo lý. Tuy nhiên, nếu hỏi họ tại sao lại phải xưng hô như vậy, và tại sao lại hành động như thế, chắc chắn nhiều người sẽ không biết trả lời sao cho suông sẻ.

Nhưng không chỉ là những Kitô hữu, những giáo dân “cố chấp”, “cấp tiến” và thiếu căn bản về tín lý và thần học đã không ý thức được giá trị thần học của lời chào cha / con , tôi nghĩ rằng phần đông các linh mục và ngay cả một số giiám mục cũng không trả lời được nếu như muốn tranh luận về từ ngữ này trong nhãn quan thần học hay tín lý. Đơn giản vì nó không có nguồn mạch Thánh Kinh mà thần học hay tín lý lại dựa vào Thánh Kinh. Như vậy, chỉ có thể nói được rằng lối xưng hô cha / con như hiện nay là một thói quen. Rất tiếc thói quen ấy đã đến lúc cần được sửa đổi, vì nó không nhất thiết phản ảnh ơn gọi của linh mục. Hơn nữa, nó còn là một ngãng trở cho việc thực hành sứ vụ của các linh mục.

Người chủng sinh, khi học hành, tu luyện trong tiểu hoặc đại chủng viện là để chuẩn bị lĩnh chức linh mục. Trong ngày truyền chức, chủng sinh ấy lĩnh chức linh mục chứ không phải lĩnh chức “cha”: “Con là linh mục đời đời theo dòng Menchisêđê”. Vậy nếu linh mục này lại cứ tưởng mình là “cha”, thì phải nói lại rằng, người chủng sinh ấy lĩnh chức “cha” chứ không phải chức linh mục. Và nếu đem áp dụng lời Thánh Kinh nói về Chúa Giêsu linh mục đầu tiên và đời đời, thì phải gọi một linh mục sau ngày thụ phong là: “con là cha đời đời theo dòng Menchisêđê”.

KHỔ CHO CHA MÀ HẠI CHO CON


Do ảnh hưởng của thói quen đạo đức, một thói quen đã trở thành truyền thống trong sinh hoạt tôn giáo như thói quen xưng hô với linh mục là cha, hoặc linh mục gọi giáo dân là con, nếu các linh mục sau ngày chịu chức đã cho phép mình được hài lòng vì xứng đáng với lời xưng hô cha / con , thì đây là một thua thiệt rất lớn cho việc thừa hành sứ vụ linh mục cũng như trong việc hướng dẫn các Kitô hữu, những người đã được trao phó cho họ.

Trong tâm lý giáo dục, người ta xếp các bậc phụ huynh thành ba nhóm: Nhóm hà khắc, nhóm nhu nhược, và nhóm trách nhiệm. Tùy theo ảnh hưởng tâm lý và lề lối giáo dục của mỗi nhóm mà tạo nên những đứa trẻ sau này.

  • - Nhóm hà khắc là lớp phụ huynh khó tính, khó nết, chuyên chế. Cái gì cũng đòi hỏi, khó chịu và khắt khe đến nỗi không có sự hòa đồng, hiểu biết với con cái. Kết quả là con cháu của nhóm này sẽ mang tâm lý tự ty mặc cảm, thiếu tự tin, hoặc ngược lại phản loạn. Trong nhóm này, nếu người chuyên quyền và hà khắc kia lại là người mẹ, thì ảnh hưởng tâm lý càng mạnh mẽ trên con cái, và có thể gây ra những tâm lý bệnh hoạn.

    Áp dụng tâm lý này vào lề lối và cung cách cư xử của các linh mục thì đây là lớp linh mục chỉ muốn làm cha người khác, muốn mọi người phải gọi mình là cha chứ không phải là linh mục, hoặc muốn người khác nhìn nhận mình như một linh mục. Họ cũng tạo nên một làn sóng chống đối, hoặc khó chịu nơi thành phần dân Chúa mà họ đang phục vụ như vậy. Trong trường hợp này chỉ có những thành phần luồn cúi và nịnh bợ là có lợi, vì họ sẽ tha hồ lợi dụng cái yếu điểm là lòng ham hố danh vọng và quyền lực của vị linh mục để khai thác và làm thiệt hại cho sứ vụ tông đồ của Giáo Hội cũng như của chính linh mục ấy.

  • - Nhóm nhu nhược là thành phần các vị phụ huynh thiếu hẳn tư cách, thiếu trách nhiệm và bổn phận. Họ để con cái mặc sức muốn làm gì thì làm. Không hướng dẫn và dậy dỗ. Kết quả con cái họ trở thành du đãng, băng đảng, hoặc lớn lên thiếu hẳn bản chất và tư cách trưởng thành.

    Trong sinh hoạt tôn giáo, người ta cũng thấy nhiều linh mục thuộc lớp phụ huynh nhu nhược. Họ giảng giải cho có lệ. Ban các bí tích cho có lệ. Dâng lễ cho có lệ. Thời giờ còn lại dùng vào việc tiêu khiển giải trí. Với lớp linh mục này, nếu tiếp tục được nấp dưới cái danh hiệu “cha”, thì quả thật không có lợi gì cho họ, cho Giáo Hội, và cho cộng đoàn dân Chúa mà họ đang phụ trách. Như vậy mà cứ nằng nặc đòi làm cha và phải được xưng hô là cha, thì đó là một lối sống và tư tưởng bệnh hoạn. Tu đức học gọi họ là những linh mục thiếu đạo đức và không có hồn tông đồ. Những linh mục này coi thánh chức không khác một nghề nghiệp..

  • - Nhóm phụ huynh có trách nhiệm. Những cha mẹ, phụ huynh thuộc nhóm này có khen và có sửa trị con cái. Hòa đồng và thông cảm chia sẻ với con cái trong những nỗi vui và nỗi buồn. Khích lệ và nâng đỡ sự yếu đuối của con cái. Đây là thành phần phụ huynh sẽ tạo nên lớp người trẻ tương lai có tư cách, tự tin và trách nhiệm. Con cái họ vâng lời, kính trọng họ mà họ không cần phải quát tháo và ra oai cho chúng biết mình là bố hay là mẹ. Con cái họ thông cảm, thân thiết với họ mà không coi thường họ vì giữa họ và con họ vẫn có lằn ranh cha con, bố con, hay mẹ con.

    Hình ảnh linh mục thuộc lớp phụ huynh này là những linh mục ý thức và thông cảm, hiểu biết. Không tự tôn, kiêu căng, và tự phụ. Các vị chấp nhận cái giới hạn và hiểu biết ơn gọi, phận vụ và lãnh vực của riêng mình. Không cần thiết và nhất thiết phải coi mình là cha và phải được gọi bằng cha. Cuộc sống các vị, sự chia sẻ và hiểu biết giúp họ biết phân biệt đâu là biên giới của thánh chức và biên giới của con người. Thành phần linh mục này cũng chính là những người “cha” tinh thần thật sự đạt được lòng trọng kính và yêu thương của mọi người. Không nhất thiết đòi hỏi phải được xưng hô là cha, nhưng không ai cấm các Kitô hữu gọi họ bằng cha vì cái đạo hạnh, khiêm tốn, và nhiệt thành với sứ vụ.

    LINH MỤC VÀ SỰ NÂNG ĐỠ


    Đời sống tu hành tự nó đã là một thách đố lớn lao. Người Kitô hữu kính trọng các bậc chân tu là ở điểm này. Nhưng nếu người tu hành không sống đúng với thiên chức mình, thì đây lại là một rắc rối cho chính cá nhân họ và cho Giáo Hội. Một trong những rắc rối ấy đến từ sự thiếu vắng tình thương, thiếu vắng sự nâng đỡ về mặt tình cảm và tinh thần. Thiếu nội tâm mà lại trống vắng tình thương, thì việc đi tìm những bù đắp là chuyện đương nhiên sẽ sẩy ra dù là người tu hành hay không tu hành.

    Thống kê cho biết có tới 50% các linh mục Hoa Kỳ bị nghiện rượu nặng. Và con số 2 tỷ dollars mà Giáo Hội Hoa Kỳ trả cho những vụ lạm dụng tình dục trẻ em của một số linh mục và giám mục đã nói lên cái trống vắng, thiếu thốn về đời sống tâm linh và tâm sinh lý của thành phần tu hành khủng khiếp như thế nào. Và nó cũng cho biết sự cần thiết trong mối tương quan hỗ tương giữa các linh mục và giáo dân. Với cái nhìn thực tế và trong tâm lý sống, thiết tưởng linh mục cũng cần nhiều sự giúp đỡ của giáo dân không những về mặt tài chính, xã hội, tình cảm, và cả tinh thần như giáo dân cần sự giúp đỡ của các linh mục vậy. Nhưng làm sao một linh mục có thể đến gần với giáo dân, và giáo dân có thể dễ dàng đến với vị linh mục ấy nếu như khoảng cách cha-con ; khoảng cách kẻ trên người dưới vẫn được duy trì trong những giao tiếp thường ngày mà đơn giản nhất, thực tế nhất bằng chính cách xưng hô giữa linh mục và giáo dân.

    Một cách tương tự, nếu người giáo dân cần được giúp đỡ, thì với khoảng cách cha / con và cung cách sống ấy liệu các linh mục hiểu gì về những nhu cầu và sự cần thiết để mà giúp đỡ. Cái cảnh mẹ gà con vịt này tự nó đã tạo nên một khoảng cách khiến cho hai bên không ai hiểu ai. Do tâm lý khác biệt, suy nghĩ khác biệt, và lối sống khác biệt giữa thành phần linh mục và giáo dân, trong những trường hợp như vậy thì ai nâng đỡ ai. Ai là người cần nâng đỡ.

    KẾT LUẬN


    Tóm lại, linh mục là một thánh chức, là một sứ vụ, và là người được sai đi trong quyền năng của nghi thức đặt tay hay truyền chức. Từ ngữ cha / con trong lối xưng hô đối với các vị này không cần thiết. Tác giả đã có dịp trao đổi với một số người cao niên và có trình độ kiến thức cũng như tác phong đạo đức. Hầu hết đều có cùng một quan niệm cho rằng lối xưng hô cha / con cần phải được sửa đổi và loại bỏ cho phù hợp với những biến đổi về tư tưởng và xã hội của con người ngày nay.

    Các vị có thánh chức cũng như giáo dân nên coi việc xưng hô cha / con là một sinh hoạt tôn giáo đã lỗi thời cần phải sửa đổi. Nếu các linh mục khó lòng tránh khỏi mặc cảm tự tôn với phong cách và lối sống cha chú bằng với những lối xưng hô cha / con , thì ngược lại, về phía giáo dân cũng cảm thấy mặc cảm và khó chịu vì cái lối xưng hô đã không mấy tôn trọng nhân phẩm, và địa vị của họ. Và như vậy là chỉ tội cho cha mà hại cho con. Tất cả chỉ vì một thói quen đã trở thành truyền thống. Một thói quen đã và đang ru ngủ mặc cảm tự tôn của thành phần linh mục, đồng thời làm dậy lên mặc cảm tự ty và phản ứng tự vệ hợp lý của thành phần dân Chúa, khiến làm chậm bước tiến và đổi mới xây dựng Giáo Hội. Nhưng ai sẽ là người làm việc sửa đổi này trước? Người dậy sự khiêm nhường hay người thực hành sự khiêm nhường?!!!