|
|
Danh xưng cha-con giữa linh mục và giáo dân
có còn chính danh hay không?
Phạm Giao
Đọc bài "Phản ứng Pavlov trong xã hội về danh xưng giữa quan và dân" của Lê Văn Khoa trong website Tiếng Nói Giáo Dân, tôi thấy đúng là như vậy. Việc xưng hô "cha con" giữa linh mục và giáo dân hiện nay trong Giáo Hội cũng chỉ là một phản xạ có điều kiện theo lý thuyết của Pavlov. Vì nguyên thủy, các linh mục yêu thương giáo dân trong xứ đạo mình như cha mẹ thương con, nên khi ấy việc xưng hô "cha con" giữa linh mục và giáo dân thật chính danh. Lý do khiến người giáo dân gọi linh mục bằng cha chính là vị linh mục yêu thương họ như một người cha đích thực. Chính tình thương đích thực, vô vị lợi đối với giáo dân không khác gì cha mẹ thương con cái đã khiến các linh mục xứng đáng được giáo dân xưng hô như thế.
Nhưng hiện nay, rất nhiều linh mục chẳng hề tỏ ra yêu thương giáo dân chút nào mà cũng vẫn được giáo dân gọi là cha xưng con, khiến cho việc xưng hô như thế không còn chính danh nữa. Cứ thử xét một vài trường hợp thì thấy tình cha con giữa linh mục và giáo dân nhạt nhẽo thế nào.
Thông thường, khi con cái lấy vợ lấy chồng, cha mẹ ruột của chúng phải lo lắng và hy sinh cho chúng như thế nào? Ngoài việc lo cho con lấy được người bạn trăm năm xứng đáng để cuộc đời hôn nhân của chúng hạnh phúc, cha mẹ còn phải hy sinh thì giờ, công sức, tiền bạc rất nhiều để tổ chức đám cưới, và không hề đòi hỏi chúng phải trả lại cho mình. Người ngoài gia đình, bà con, bạn bè, hàng xóm còn đến chúc mừng và giúp cho con cái họ những món quà hay tiền bạc để phụ với họ trong việc tổ chức đám cưới hay để cho chúng có chút đỉnh tiền làm vốn.
Thế còn cha xứ, cũng mang danh là cha mẹ của chúng, thì sao? Nhiều vị vẫn có thể vui vẻ nhận tiền của chúng xin cha làm lễ cưới, mà không một chút ngượng ngùng. Một số vị còn đòi hỏi tiền lễ tối thiểu phải là bao nhiêu mới chịu làm. Thế thì tình thương và trách nhiệm lo lắng cho con cái của các vị được thể hiện ở chỗ nào?
Nhiều vị lý luận rằng thánh lễ là vô giá, nên xin lễ dù là bao nhiêu tiền cũng không đủ! Thì ra các vị đã tự cho rằng chính mình là người ban cho đôi tân hôn những ơn vô giá ấy, chứ không phải là Thiên Chúa, nên việc nhận những món tiền xin lễ dù to đến đâu cũng luôn luôn xứng đáng! Nghĩ như vậy là các vị lầm rồi! Linh mục chỉ là người chuyển giao những ơn huệ từ Thiên Chúa đến cho giáo dân, tương tự như một nhân viên bưu điện chuyển thư từ, bưu kiện hay quà cáp hay tiền bạc từ người gửi đến người nhận thôi, chứ nhân viên bưu điện không phải là người gửi. Nếu làm một dịch vụ để sinh sống bằng nghề chuyển thư, chuyển quà hay tiền như vậy thì việc lấy tiền là rất chính danh và chính đáng. Thà rằng vị linh mục cứ thành thật nhận mình là một người làm dịch vụ chuyển ơn Chúa xuống cho giáo dân như một nghề nghiệp để sinh sống thì việc nhận tiền lễ của giáo dân trở nên rất chính danh. Nhưng các linh mục đâu chấp nhận cho giáo dân quan niệm như thế, mà vẫn cứ muốn họ coi mình như cha mẹ của họ. Làm cha mẹ mà lại hành xử với con cái như một người làm dịch vụ để sinh sống thì có chính danh không?
Cũng vậy, khi cha mẹ có con cái mất sớm, thì ngoài nỗi buồn đến đứt ruột vì sự mất mát lớn lao ấy, cha mẹ còn phải hy sinh đủ thứ để lo chuyện hậu sự cho con. Những bà con thân quyến, bạn bè, hàng xóm cũng đến thăm và phúng điếu để góp phần với cha mẹ người chết để lo hậu sự cho con.
Thế còn linh mục thì sao? Giáo dân trong trong xứ chẳng may bị bệnh hay tai nạn chết, người cha tinh thần của họ đã buồn phiền ra sao và đã hy sinh cho đứa con tinh thần xấu số thế nào? Quả thật, nhiều vị chẳng hề ngại ngùng chút nào khi nhận tiền xin lễ của tang gia, có vị còn đòi hỏi tiền lễ phải đủ tiêu chuẩn mà mình đặt ra mới chịu! Thử hỏi tình thương của các vị đối với giáo dân nằm ở chỗ nào?
Tuy nhiên, cũng cần phải nói cho công bằng, một số linh mục đã chủ trương không lấy tiền lễ trong các đám cưới và đám tang thuộc giáo xứ mình. Thật là một tiến bộ đáng khen! Nhưng than ôi, số linh mục này không nhiều!
Tôi được nghe nhiều người nghèo than về việc cha xứ không chịu nhận làm lễ giỗ cho cha mẹ mình. Chỉ vì mình xin lễ quá ít tiền! Chẳng hạn, một người nọ làm công nhân, lương tháng 600.000đ , nghĩa là mỗi ngày làm được 20.000đ. Tới ngày giỗ mẹ, vì lòng thảo hiếu, anh dành ra cả một ngày công để xin lễ cho mẹ mình. Nhưng anh thật buồn khi cha xứ từ chối không nhận làm lễ chỉ vì tiền xin lễ quá ít. Cha nói: Bây giờ là thời gạo châu củi quế, anh xin lễ như thế này thì làm sao tôi sống được? Anh nhà nghèo bèn cầm 20.000đ lủi thủi ra về, tủi thân cho phận nghèo hèn của mình: chỉ vì nghèo nên không có khả năng hiếu thảo với mẹ mình. Kể chuyện này ra, tôi xin cam đoan với danh dự và lương tâm của mình là chuyện có thật. Tôi còn có thể kể ra tên và xứ đạo của những vị linh mục đã hành xử như vậy nữa. Và tôi còn dám chắc số linh mục hành xử tương tự như vậy có tỷ lệ không nhỏ, ít nhất cũng phải 10%.
Quả thật 20.000đ đối với vị linh mục thì quá nhỏ so với nhu cầu tiêu dùng của ông. Vì dẫu sao ông cũng có mức sống thuộc loại khá cao trong xã hội. Nếu cứ lễ nào ông làm cũng chỉ nhận được có 20.000đ thì ông không sống nổi là phải! Nhưng đâu phải ai cũng xin lễ với số tiền ít ỏi như vậy?! Cũng có nhiều người đến xin lễ với giá cao hơn gấp bội! Chính nhờ vậy mà nói chung các linh mục có mức sống cao hơn giáo dân bình thường rất nhiều! Khi chê số tiền xin lễ kia là quá ít, vị linh mục quên rằng 20.000đ ấy có thể nuôi sống cả gia đình người xin lễ nghèo nàn kia trong cả một ngày. Đem 20.000đ đến cha xứ để xin lễ cho mẹ là cả một hy sinh lớn lao đối với anh công nhân nghèo ấy! Cha xứ mà đối xử như vậy thì thử hỏi ông có yêu thương gì giáo dân của mình không? Chưa nói đến việc ông có còn lương tâm hay không? Và như vậy ông có xứng đáng được giáo dân gọi bằng "cha" không? Một người cha yêu thương con cái không bao giờ hành xử như vậy!
Chỉ cần đưa ra vài trường hợp cụ thể và điển hình như thế để thấy được tình thương của các bậc cha mẹ tinh thần đối với con cái mình có đích thực là tình thương hay không. Từ đó suy ra việc xưng hô cha con hiện nay có còn chính danh hay không./.
|