Vài mảnh vụn thì thầm mà chơi:


DỰA CỘT MÀ NGHE


Lê Thiên

Trong một bài góp ý ký tên NĐM tung ra hồi tháng 7/2005 có câu này: “Người Việt nam chúng ta có câu: ‘biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe’ . Không biết mà cứ thích nói những điều mình không am tường thì chỉ để lộ cái dốt nát và ngoan cố của mình cho thiên hạ cười chê mà thôi.

DỰA CỘT


Năm 1950, lúc còn là một đứa bé trường làng, thầy tôi, mỗi lần giảng bài xong, luôn hỏi bọn chúng tôi ai chưa rõ điểm nào cần hỏi cứ hỏi, hay có ý kiến hoặc thắc mắc gì cứ phát biểu. Lần nào bọn tôi cũng im lặng. Sau nhiều lần cho bài tập, thầy thấy nhiều đứa chưa hiểu hoặc hiểu sai lời thầy giảng mà chẳng có đứa nào hỏi han thắc mắc, như thể đã thông hiểu hết rồi. Thầy trách:

- Thầy đã bảo ai chưa hiểu, cứ hỏi lại. Tại sao các trò cứ câm như hến?

Một cậu học trò mạnh dạn đứng lên thưa:

- Dạ thưa thầy, hồi ở lớp dưới, tụi con được dạy rằng: “Biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe!”

Thầy bèn giảng một bài “mo-ran” thấm thía:

- Các trò có biết câu ấy phát xuất từ đâu không? Câu nói nằm lòng của mấy ông quan cai trị đó! Họ muốn dân mình cứ ngu mãi, cứ cúi đầu tùng phục. Chỉ thưa dạ chớ không được thưa thốt. Một số nhỏ người làm cha làm mẹ vô tình cũng dạy con cái mình như vậy, khiến con cái vẫn mãi u mê, không trưởng thành được. Con không hơn cha, nhà làm sao có phúc! Trò không hơn thầy, xã hội sẽ bất hạnh, loài người không bao giờ thấy ánh sáng văn minh.

Rồi thầy tôi cảnh giác:

- Bỏ thói “dựa cột”, các trò sẽ trở thành lớp “hậu sanh khả úy” đối với bọn quan quyền ỷ thế. Còn nếu cứ cúi đầu “dựa cột”, lớn lên các trò lại cứ “truyền thống” ấy mà bắt thiên hạ “dựa cột” trước quyền uy của các trò, các trò sẽ chỉ là thứ “hậu sanh khả ố” mà thôi.

Đội ơn thầy tôi đã dạy tôi đừng “dựa cột” và đừng bắt ai “dựa cột”!

Sau biến cố 30/4/1975, các ông quan thắng trận lùa chúng tôi vào các lò “học tập”. Chúng mở ra những lớp gọi là “học tập” mà không cho chúng tôi hỏi han, thưa thốt điều gì, trừ những lời ca tụng tâng bốc chế độ và các quan chức lãnh đạo! Nhiệm vụ chúng tôi: Dựa cột mà nghe! Nếu có ai trong chúng tôi phát biểu nghịch ý cán bộ sẽ không khỏi bị kết tội phản động, bị chửi bới là “dốt nát và ngoan cố”. Tội nghiệp! Bọn cán bộ rừng rú ấy không hề thấy bản thân chúng dốt nát và lì lợm ngoan cố tới mức nào!

Năm 2000, Đức Tổng Giám Mục (ĐHY}Nguyễn Văn Thuận giảng tĩnh tâm cho Đức Giáo Hoàng và Giáo triều Rôma. Ngài kể câu chuyện về một buổi triều yết trong một triều đình. Hoàng đế truyền cho hai quan đại thần đọc tổng kết cuối năm. Vị hoàng đế hướng về toàn thể bá quan và hỏi: “Ai trong các khanh có điều gì muốn nói thì cứ tự nhiên”.

Đây là một ngày mà hoàng đế mời tất cả mọi người tự do phát biểu ý kiến. Nhưng không ai dám nói. Im lặng tuyệt đối bao trùm triều đình. Bất thình lình người ta nghe thấy có tiếng rên khóc. Hoàng đế hỏi: “Ai khóc vậy? Hãy ra trước mặt Trẫm mà giải thích”. Một vị quan bước ra, bái ba lạy trước mặt hoàng đế và với tất cả lòng tín cẩn, ông nói: “Tâu Bệ Hạ, không có ai trong triều đình này dám nói sự thật. Thần sợ rằng đất nước chúng ta lâm nguy và có nguy cơ sụp đổ . Vì thế mà thần khóc”. (TGM F.X. Nguyễn Văn Thuận. Chứng Nhân Hy Vọng, trang 49-50).

Đất nước lâm nguy không vì địch họa mà vì cái họa “dựa cột” của thần dân!

MẶC CẢM


Chúng ta chắc chắn không ai không biết dụ ngôn Chúa Gi êsu về người Pha-ri-sêu và người thu thuế: Có hai người lên đền thờ câu nguyện…

Người Pha-ri-sêu đứng riêng một mình, cầu nguyện rằng: ‘Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác… hoặc như tên thu thuế kia’. Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: ‘Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi’.

Chúa Giê-su kết thúc bài dụ ngôn: “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”. (Lc 18, 9-14).

Dụ ngôn cho thấy hai hình ảnh đối nghịch: một đàng dương dương tự đắc và một đàng khiêm nhượng rụt rè, “đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời”. Nói theo ngôn ngữ thời đại, kẻ kiêu ngạo kia quả đã mắc phải bệnh MẶC CẢM TỰ TÔN. Còn người khiêm nhượng thì có thể ví như người MẶC CẢM TỰ TI. Kẻ mặc cảm tự ti đáng thương hại “vì thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời”. Còn người mặc cảm tự tôn thì lại không thích đi với ai, cách xa quần chúng, “đứng riêng một mình” (Lc 17, 11), tự cô lập mình.

Chúa thương Đức Maria, chọn Người làm Mẹ Thiên Chúa vì Đức Mẹ nhìn nhận mình “phận nữ tì hèn mọn” (Lc. 1, 48). Cũng vậy, Chúa Giêsu thương ông quan cai trăm quân: tuy nhận mình đầy quyền lực đối với binh sĩ cấp dưới (bảo đi là đi, bảo đến là đến, bảo làm gì làm nấy), ông vẫn “Thưa Thầy, tôi chẳng đáng Thầy vào nhà tôi” (Mt. 8, 5-9). Không ai cho đó là thái độ mặc cảm tự ti.

Riêng tôi cám ơn ai chê tôi mặc cảm tự ti. Tôi chỉ sợ mình hí hửng cho mình là người khiêm nhượng, rồi từ tự ti sinh lòng tự tôn, trở nên kiêu căng hách dịch tưởng mình trổi vượt trên người khác, rồi tự tung tự tác!

Có điều là, chẳng hiểu tại sao khi người ta dạy tôi hãy biết dựa cột theo thân phận mình, đừng có “đũa mốc chòi mâm son”, tôi vâng lời dừng lại ở vị trí thấp hèn của tôi thì lại bị xỉa xói là “mặc cảm - mặc cảm tự ti”. Nhưng nếu tôi lên tiếng góp ý, thì lại bảo tôi là “ganh tị”, “thích nói những điều mình không am tường thì chỉ để lộ cái dốt nát và ngoan cố của mình cho thiên hạ cười chê mà thôi”. Thì ra, “dựa cột” đã không ổn, mà mở miệng cũng bị xỉ vả!

ÔNG HỒ CHƠI NỔI


Nhờ báo chí phanh phui, cả nước Việt Nam hầu như ai cũng biết chuyện ông Hồ viết về mình và ký tên Trần Dân Tiên, như thể có một gã Trần Dân Tiên nào đó thấu suốt từ cuộc sống bên ngoài tới con người bên trong của Hồ Chí Minh.

Thực ra, Hồ Chí Minh thừa khả năng để viết về mình, thổi phồng và đánh bóng quá trình huyền thoại đạo đức Cách mạng vô sản của mình. Nhưng ông Hồ lấn cấn với việc sử dụng danh xưng. Viết tự truyện mà tự xưng là “Bác Hồ”, “Bác Hồ Vĩ Đại”, “Cha Già Dân Tộc”, là “Chủ Tịch vô vàn kính yêu”, là “Người” (với chữ N viết hoa), thì lố bịch quá! Cuốn tự truyện sẽ lột mặt nạ người viết, “gậy ông đập lưng ông”. Cuốn tự truyện sẽ phỉ nhổ tác giả trước khi quần chúng coi khinh ông.

Cái tên Trần Dân Tiên đứng mũi chịu sào thần thánh hóa ông Hồ! Khách quan quá đi chứ! Có điều là ông Hồ đã không che giấu được lâu cái gian dối lưu manh của mình. Và vì cái tên giả ấy mà người hùng Ái Quốc đã trở thành Chính Mi đồ hèn!

Ngày nay nếu có ai đó mượn một tên ma để viết bài tự ca tụng mình, đánh bóng mình, thì kẻ ấy cũng chỉ là người đi sau ông Hồ, và cũng đáng phỉ nhổ thôi. Huống hồ là giấu mặt để đánh đấm người khác. Chỉ kẻ tiểu nhân mới chơi trò ném đá giấu tay! Người Tây nói: “le style c’est l’homme”. Văn là người. Dầu giỏi che giấu tới đâu, thiên hạ cũng khám phá ra tác giả, nhất là người viết ấy chưa đủ tài để ngụy trang văn phong của mình. Người có tên có tuổi, có chức có danh mà giấu cái đầu để hở cái đuôi thì càng đáng hổ thẹn!

Mong đừng xảy ra chuyện giấu tên, mượn tên. Thật một trăm phần trăm, từ danh tánh tới câu cú, cấu trúc, nội dung… không đánh bóng bên này, đánh phá bên kia, thì không ai không phục!

LỘN TÊN


Từ Điển Tiếng Việt định nghĩa “Lú lẫn là suy kém trí tuệ, hay bị lẫn, bị quên”. Còn “lẫn” là “không phân biệt được nên nhận nhầm cái này ra cái khác”.

Người tuổi cao lú lẫn không nhớ được tên mình và tên người, không ai chấp.

Người sớm hội nhập văn hóa và ngôn ngữ Mỹ, nhanh chóng “Mỹ hóa”, nói và viết tên tiếng Việt không chuẩn, có lầm lẫn tên người Việt với tên Tàu, tên Đại Hàn hay tên Mỹ (Lee) gì cũng chẳng ai bắt bẻ.

Chỉ … tội nghiệp cho ai đó viết sai tên không do lú lẫn hay do Mỹ hóa mà do không tự kiểm soát được mình khi viết! Có lẽ là do tâm thần bất an, trí óc không ổn định mới nên cớ sự!

Mình chấp nê tức là cũng tự đánh mất bình an trong tâm hồn mình! Rồi biết đâu lại đem cái sự mất bình an của mình trút lên đầu người khác. Đang tỉnh hóa điên! Điên đến nổi vừa tự nhận mình nói thay cho tuyệt đại đa số, vừa trách móc kẻ khác dám phát biểu nhân danh người này người nọ trong khi kẻ khác ấy xác định mình không đại diện ai mà chỉ phát biểu theo quan điểm cá nhân!

Lộn tên có chủ tâm thì lại là chuyện khác! Và như vậy thì … miễn bàn!

LỜI ĐẸP Ý SÂU


Đọc cuốn ĐƯỜNG HY VỌNG của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, thấy câu nào cũng thâm thúy. Xin ghi nhận 10 câu là khuôn vàng thước ngọc tôi hay nghiền ngẫm sau đây. (Nhan đề mỗi câu do người viết thêm vào).

  • 1. Chớ độc quyền việc Chúa:

    306. Việc Chúa, không ai được giữ độc quyền đại lý. [Đánh số theo tài liệu].

  • 2. Đừng sợ bị chụp mũ Tin lành

    333. Nếu con bảo “giáo dân là tư tế, tiên tri, vương đế”, có người sẽ cho con là thệ phản.

  • 3. Đừng tự phụ về bằng cấp của mình:

    579. Văn bằng chứng tỏ con đã thông minh trong một giai đoạn nào đó, đặc biệt lúc đi thi. Nếu sự học hỏi của con đứng ngang đó, dù một đống văn bằng cũng không bảo đảm sự thông minh của con.

  • 4. Tranh địa vị, chức tước là điên khùng:

    672. Biết trần gian là nơi tạm trú, sao con còn bo bo giành cho được sở này, chức kia, tiếc nuối chiếc bàn, chiếc ghế…? Con sẽ mang nó vào thiên đàng “hưởng phúc đời đời” sao? Phi lý và điên khùng!

  • 5. Đối thoại, đừng độc thoại:

    753. Con chủ trương phải đối thoại, nhưng con không chấp nhận ai nói trái ý con. Đó là “đối thoại có chương trình và giới hạn” hay nói đúng hơn: hai người độc thoại!

  • 6. . Thái độ với người bất đồng ý kiến:

    759. Nếu con chỉ khen người khen con, chỉ chấp nhận người không phản đối con, giao tiếp với người đồng ý kiến với con, con không bác ái cũng không sáng suốt: mù dắt mù.

  • 7.. Kiêu căng làm đảo lộn trật tự đạo đức:

    764. Tính xấu của tôi, tôi cho là nhân đức. Thiện chí của anh em, tôi gọi là khuyết điểm.

  • 8.. Linh mục hãy tránh xa thói thế gian:

    191. Chính thừa tác vụ của các ngài [linh mục], vì mang một danh nghĩa đặc biệt, nên đòi buộc các ngài không được theo thói thế gian (trích Lumen Gentium 3, GH 34b, 41cg; MV 34b, 38a, 93).

  • 9.. Không khoe khoang:

    201. Người chí khí không khoe khoang nhưng có tinh thần hy sinh như thẻ đường, hạt muối: chấp nhận tan biến để làm cho thức ăn có mùi vị ngon lành.

  • 10. . Người ta có lý khi khinh rẻ tôi:

    507. Nếu con biết rõ mình con, con sẽ tức cười khi nghe người ta tung hô con, và con thấy việc họ khinh rẻ con là có lý. Chừng đó con lại ngạc nhiên tại sao người ta mới xử ngang độ ấy thôi.

    Lời châu ngọc thay lời kết


    “Phúc cho ai biết phân biệt quả núi khác viên sỏi vì sẽ tránh được bao nhiêu phiền hà” (ĐHY Ph.X. Nguyễn Văn Thuận.Niềm Vui Sống Đạo, Đại Năm Thánh 2000, trang 50).

    • Chức thánh: viên sỏi.
    • Sống thánh: quả núi.
    • Danh xưng: phù phiếm.
    • Đức độ: miên viễn.