TOA RẬP VỚI CỘNG SẢN (Bài 2: Linh Mục và Chính Uỷ)

Nguyễn Văn Lục


Tiếng nói toa rập với chính quyền của linh mục kiêm Chính Uỷ Trương Bá Cần



Lợi dụng Buổi Đại Hội UBĐKCGVN lần V, Trong bài gọi là Tham, Luận: Truyền thống yêu nước và tổ chức yêu nước của đồng bào công giáo ở Việt Nam, Trương Bá Cần muốn chia rẽ hai giáo phận miền Bắc và miền Nam trong Vụ Thái Hà. Chúng ta cần nhìn cho rõ điều này. Đây cũng là bài bản, thói quen của tờ Công giáo và Dân Tộc trong những sự việc sau đây:


● Trước đây, vào năm 1960, Linh mục Phạm Hân Quynh trong bài phỏng vấn của báo La Croix ở Paris ra mặt chống lại UBLLCGVN, tiền thân của UBĐKCGVN nên sau đó Lm Quynh đã bị bắt và quy tội “chống lại vai trò trung gian gây nhiễu của UBLLCGVN để giới hạn ảnh hưởng không tốt đẹp của nó về phía người công giáo”


UBLLCGVN sau này cũng đóng vai trò trung gian gây nhiễu ở trong Nam do nhóm TBC điều động. Phần Lm Quynh đã bị tù và quản thúc gần 30 năm tại miền Bắc và chỉ được trả tự do vào năm 1988 chỉ vì chống đối tổ chức mặt nạ công giáo kiều Trương Bá Cần. (Đọc thêm bài: Chính sách đàn áp công giáo của đảng cộng sản và vai trò của UNĐKCG trong 30 năm công giáo dưới chế độ cộng sản, bài của Lê Thiên, trang 456)


● Nhóm Công Giáo và Dân Tộc đòi hỏi hủy bỏ thư chung của Hội Đồng Giám Mục Đông Dương năm 1951 trong buổi họp tại Đại Chủng Viện, vì Thư chung có những nhận định sai lạc về người Cộng Sản và có thái độ chống cộng sản tai hại. Nội dung buổi họp đó được đăng lại trên các số báo Công Giáo và Dân Tộc, số 40. Và Nội dung lá thư chung năm 1951, theo tôi vẫn còn giá trị, ít nhất về mặt lịch sử của Giáo hội thầm lặng miền Bắc.


● Tiếp đến là Thư Chung của Hội đồng Giám Mục về Thống Nhất ngày 22/11/1975. Trong đó Trương Bá Cần “lên lớp” Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình là chưa tỏ rõ Thái độ và Lập Trường. Nhiều trí thức công giáo bất bình vì thái độ của TBC. Tờ báo CG&DT sau đó bị cả chính quyền cộng sản tịch thu vì lập trường cứng rắn và quá khích “bảo hoàng hơn vua” của Trương Bá Cần. Linh mục quốc doanh hơn cả quốc doanh như một vai trò con rối. Trí thức công giáo thời đó được dịp hiểu rõ con người của TBC như thế nào. Và có người dặn riêng tôi khi viết bài này, nhớ viết kỹ lại điều này.


● Trong dịp viếng thăm của Hồng y Roger Etchegaray, chủ tịch ủy ban “Giáo Hoàng công lý và Hòa Bình” (Sau này, Giám Mục Nguyễn Văn Thuận thay thế), tháng 7, 1989 có đem theo một thông điệp của Giáo Hoàng gửi Hồng y Trịnh Văn Căn và Hội Đồng giám mục VN. Trong dịp tiếp xúc với chính quyền VN, Hồng y đã tế nhị nhờ chính quyền trao bức thư đó cho Giáo Hội VN. Ông Trương Bá Cần đợi đến tháng 8 mới cho đăng bức thư đó lên báo CG&DT. Chắc là có nhận được chỉ thị trực tiếp từ Ban tôn giáo, ông Trương Bá Cần đã cắt bỏ những từ nào đã được gạch đít xét ra không có lợi cho chính quyền cs. Chẳng hạn những từ như: Sự thử thách, sự thách đố , hay Từ ngày xảy ra những biến cố trước đây . Hoặc những từ chỉ nhằm đề cao tinh thần giáo dân như “Hiên ngang kiên cường, tuyên xưng đức tin, sức sống hùng mạnh của giáo dân” . Trương Bá Cần sợ hay ngại và xoá bỏ hết. Chắc sau việc cắt bỏ này, ông TBC cảm thấy mình có công với đảng, mình “khôn ngoan”.


Và đối với ông hèn, gian dối đồng nghĩa với khôn ngoan.


Sự khôn ngoan ấy còn tỏ rõ hơn trong một lần khác khi dịch bài phỏng vấn Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình của ký giả Aimé Savard, đăng trên tờ La Vie, bên Pháp. Trương Bá Cần cũng cắt đục bỏ như vậy. Bị độc giả chất vấn, TBC đã trả lời sống sượng trên báo CG&DT như sau: “Tờ La vie có đối tượng của nó. Công giáo và dân tộc cũng có đối tượng của mình. Làm báo là phải lựa chọn. Lựa chọn những cái gì thật cần thiết và hữu ích cho đối tượng mình phục vụ”.


● Vụ biểu tình đòi trục xuất Khâm sứ ra khỏi Việt Nam. Xin đọc lại chứng từ viết về quang cảnh lúc đó: bl


“Họ nhảy qua tường, đột nhập vào toà khâm sứ, dùng búa đập phá ổ khóa ngoài cổng, trèo lên mái nhà căng biểu ngữ và hạ cờ tòa Thánh. Bọn chúng hò hét: Đả đảo! đả đảo! Henri Lemaitre về nước, cút đi, cút đi. Họ xô đẩy Khâm sứ, linh mục phụ tá người Ba Lan và linh mục bí thư người Việt trong khuôn viên Tòa Khâm sứ ra hẳn ngoài đường Hai Bà Trưng, rồi đóng ập cửa lại.”



(Trích Công giáo miền Nam Việt Nam sau 30/04/1975, trang 219, trích lại trong Ba mươi năm, trang 465). Sau khi trục xuất được khâm sứ rồi đến người kế nhiệm là Sesto Quercetti cũng chưa đầy một năm sau cũng bị trục xuất. Ngoại giao giữa Vatican và chính quyền VN bị đứt đoạn như hồi 1954-1955.


Việc trục xuất Khâm sứ ở Hà Nội cũng như Sài Gòn là nhà nước muốn chứng tỏ cho Vatican thấy cái ưu quyền của nhà nước đối với quan hệ giữa Vatican và giáo hội VN theo tinh thần Nghị quyết 297 của Hội Đồng Bộ Trưởng, trong đó đòi Vatican phải có sự chấp thuận của nhà nước trong việc chọn lựa Giám Mục. Điều mà Vatican thường không gặp khó khăn gì đối với các nước khác trên thế giới. Còn ở Việt Nam, đây là khúc xương khó nuốt mà chính quyền cộng sản nhất định không muốn nhả ra.


Họ đây là ai? Họ cầm đầu giật giây này là Trương Bá Cần, Huỳnh Công Minh, Vương Đình Bích với sự phụ họa của Thanh Lãng và Phan Khắc Từ. Riêng Trương Bá Cần còn dùng thêm lực lượng Thanh Lao Công mà ông là Tuyên Uý để đập phá tòa Khâm Sứ.


Cảnh đập phá ấy nhắc nhắc nhở mọi người nhớ tới cảnh đập phá bây giờ ở Thái Hà. Có điềư gì khác biệt?


● Vụ ngăn cản GM Nguyễn Văn Thuận làm Tổng Giám mục phó Sài Gòn. Tất cả đều có bàn tay của TBC hay Huỳnh Công Minh nhúng vào với lời tuyên bố “Không cần gì phải có Vatican, các giám mục Việt Nam cứ thu xếp với nhau là được rồi”.


Đây là bước đầu manh nha của một thứ Công Giáo Tự Trị do nhóm Vương Đình Bích, Trần Viết Thọ, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, Thanh Lãng mong muốn. Thật sự thì nhóm này cũng hành động theo sự thúc đẩy bên trong của chính quyền cộng sản mà họ tránh không muốn ra mặt. Trên tờ Sài Gòn Giải Phóng có ghi lại lời trả lời của ông Nguyễn Văn Hanh như sau: “Do đó, đã xảy ra xôn xao và xáo trộn, thậm chí có chết người trong cuộc xô xát đêm 03/86/1975, gần cầu Trương Minh Giảng”.


Đây là cái chết đầu tiên xô xát gìữa cái cũ và cái mới báo hiệu những câu chuyện chẳng lành.


“Cạnh đó có tiếng nói khác của Lm Trần Du, đăng trên tờ Đứng Dạy, số 72, trang 46 như sau: “ Hai triệu dân công giáo không chấp nhận. Giám mục Nguyễn Văn Thuận không có quyền từ chức.”.


Giáo dân Thái Hà. Hãy học lại bài học này. Họ đã từng bắt giám mục Nguyễn Văn Thuận từ chức như hiện nay, họ yêu cầu thay đổi TGM Kiệt và mấy Lm Dòng Chúa Cứu Thế.


Nhưng hoàn cảnh Giám Mục Thuận và Giám mục Kiệt không còn giống nhau nữa.


Cách hành xử bạo ngược của đám Trương Bá Cần chỉ tạo thêm mối nghi ngờ của các Giám Mục Nguyễn Văn Bình Và Nguyễn Kim Điền vốn lúc ban đầu có thiện chí hợp tác với chính quyền mới. Thật vậy, Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền ngay từ đầu đã gửi tâm thư vào ngày 01/04/1975 và Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình gửi tâm thư ngày 05/05/1975, chỉ 5 ngày sau của 30/04 mà nội dung đều là vui mừng, kêu gọi giáo dân hợp tác với chính quyền mới. Nhưng cái khẩu hiệu anh em, hãy vui mừng, vì giải phóng đẵ đến (nhái lại câu” Anh em, hãy vui mừng vì Chúa của chúng ta đã đến. Theo tinh thần Hiến chế: Gaudium et Spes.)


Anh em ơi! Hãy vui mừng đã chẳng được bao lâu tiếp nối sau là câu: Hãy khóc lên đi, con cháu của Israel! !


Cuối cùng thì cả cái miền Nam đều buồn.


Sau này, chỉ có mình Thanh Lãng để chúc thư xám hối và xin tha thứ trước khi qua đởi.


● Có vài vụ muốn nói ở đây. Vụ Vinh Sơn vào tháng 2, 1976.. Cũng tờ báo CG&DT, số 34 dành trang khổ lớn viết về vụ Vinh Sơn như sau:


“Từ 7 giò 30 ngày 12-2-76 đến 8 giờ 30 ngày 13-2-76, lực lượng an ninh vây bắt ngay tại nhà thờ Vinh Sơn một tổ chức phản nghịch vũ trang chống lại chính quyền Cách Mạng, phá hoại kinh tế và đời sống nhân dân do linh mục chính xứ Vinh Sơn là Nguyễn Quang Minh cùng với một thiếu tá nguỵ là Nguyễn Ngọc Thiệp cầm đầu”.


Nhưng khi kê khai vũ khí thì có 2 rulô, 1 colt 45 và 1 súng AK.


Họ có mời các lm Huỳnh Hữu Đặng, thơ ký tòa giám mục, lm Nguyễn Huy Lịch, ông Nguyễn Đình Đầu đến”phạm trường” chứng kiến vụ này. Tổng giám mục cũng có lên tiếng phê phán vụ Vinh Sơn.


Phần Trương Bá Cần và tờ báo của ông đã lên tiếng thống trách TGM Bình và HĐGM Việt Nam là “chưa đủ dứt khoát với quá khứ và coi việc chống Cộng như bổn phận của công giáo”


Trương Bá Cần luôn luôn có giọng dạy đời, “lên lớp Giám Mục hay cả Hội Đồng giám mục nữa”.


Cạnh đó còn nhiều vụ khác làm cho mối liên hệ giữa công giáo và chính quyền cộng sản trở nên căng thẳng và xấu đi như các vụ: Đóng cửa Trung tâm Đắc Lộ vào tháng 12/1980, bắt giam 7 tu sĩ Dòng Tên và lm bề trên Nguyễn Công Đoan, một cộng sự viên đắc lực của TGM Bình. Ngày 15/05/1987, chính quyền bắt giữ ở dòng Đồng công Thủ Đức 60 người trong đó có 40 linh mục và 20 tu huynh với lời cáo buộc tu viện trở thành trung tâm huấn luyện đến 600 cán bộ.


Lời cáo buộc hẳn là vô căn cứ dành cho một vị bề trên già như lm Thủ.


Những việc bắt bớ như thế làm cho Giám Mục Nguyễn Văn Bình trở thành khó ăn khó nói đối với cộng đoàn tín hữu Sài Gòn.


Và trong chỗ riêng tư, khi nào về nghỉ ngơi tại nhà cựu dân biểu Ngô Công Đức vốn là cháu của TGM, có khi có cả Trần Bạch Đằng, TGM, bản tính hiền lành, cả nể, thường phàn nàn bày tỏ nỗi ưu tư của ngài, đôi khi bị người ta ép phải tuyên bố điều này điều kia như trong vụ Vinh Sơn chẳng hạn.


Tôi cảm thức sâu xa rằng Hồng Y Trịnh Như Khuê ngoài Hà Nội và Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình Sàigòn là những người lãnh đạo Thiên Chúa Giáo đau khổ nhất trong vai trò chủ chiên của mình dưới bàn tay cộng sản và tay chân của họ..


Chẳng biết số phận Hồng Y Phạm Minh Mẫn bây giờ có hơn gì không? Tôi hỏi để mà hỏi.


● Trong giai đoạn đánh phá tàn dư của văn hóa ngụy, lợi dụng dịp này, Trương Bá Cần đã yêu cầu các Lm xứ giao nộp hết giấy tờ, sổ sách của mỗi xứ. Sau đó, Trương Bá Cẩn cho 3,4 người lọc tìm tài liệu, sách vở quý giá để làm thư viện riêng cho mình, còn những giấy tờ hộ tịch như rửa tội, hôn thú vv thì cho thu gom bán kí lô. Việc làm của TBC đáng lên án vì phá hủy, thu sạch toàn bộ Văn hoá nhà đạo làm của riêng mình.


Tội đối với văn hóa lịch sử đạo công giáo ở Việt Nam mình Trương Bá Cần trách nhiệm và trả lời sau này.


● Vụ Phong Thánh tử đạo cho 117 vị tử đạo tại VN vào năm 1988. Có lẽ đây là công việc đánh phá ngoạn mục nhất của tờ CG&DT của Trương Bá Cần. Trong suốt thời gian chuẩn bị trước khi phong thánh, tờ CG&DT đã trở thành cơ quan đầu não thay mặt chính quyền cs đánh phá công giáo.. Bên cạnh những bài viết của cán bộ cộng sản như Trần Bạch Đằng, Nguyễn Khắc Viện, có sự tiếp tay của Thiện Cẩm, Trương Bá Cần, Vương Đình Bích, Nguyễn Thiện Toàn, Huỳnh Công Minh và thêm Giám Mục Bùi Tuần…


Có những bài sau đây được đăng trên CG&DT nhằm hỗ trợ cho việc đánh phá ấy như: Vài suy nghĩ trước dư luận về việc phong Hiển thánh các vị Tử Đạo Việt Nam của Giám Mục Bùi Tuần, đăng trên CG&DT, số 648 phát hành ngày chủ nhật 7-2-1988. Bài viết của Giám Mục Bùi Tuần nhằm thuyết phục Hội Đồng Giám Mục VN và Toà thánh hủy bỏ việc phong thánh…


Cho đến lúc này, tôi cũng chưa hiểu hết thái độ và lập trường của Giám Mục Bùi Tuần trong việc này như thế nào?. Cạnh đó có bài của Nguyễn Khắc Viện nhan đề: Chết vì đạo? Chết vì ai? Tiếp theo, CG&DT, số ra ngày 14-2- 1988 có bàì viết nhằm trao đổi với Giám Mục Bùi Tuần: Trao đổi với Giám Mục Bùi Tuần. Cuối cùng trên CG&DT, số ngày 19-6-1988,đúng ngày tuyên bố phong thánh có đăng bài: “Một cuộc tiếp xúc với Giám Mục Bùi Tuần.” Chưa bao giờ mà họ lại đoàn kết lại với nhau quyết tâm phá bỏ quyết định phong thánh của Vatican đến như thế. Quyết liệt và đấu tranh không tương nhượng bằng đủ cách vận động, ngay cả vận động bên cạnh tòa thánh của Giám Mục Bùi Tuần..Thất bại hoàn toàn. Việc phong thánh vẫn tiến hành xuôi xẻ


Phải nhìn nhận “công đánh phá” của Trương Bá Cần. Cái ghế Tổng Biên Tập tờ CG&DT vì thế đã không thể có ai thay thế được. Sau này, có một vài bài có tính cách “ tiêu cực” một chút thì Trương Bá Cần nhận được lời cảnh cáo: Này anh Cần, đội này thay đổi nhiều đấy nhé. Lới cảnh cáo nhẹ nhàng đó đủ để TBC trở lại vị trí “con rối và làm cảnh“của mình.


Trương Bá Cần và vụ Thái Hà



Thay vì đứng vế phía Giáo Hội trong vụ Thái Hà mà gần như toàn thể giáo hội hai miền đều đồng tâm nhất trí trong vụ Thái Hà, Trương Bá Cần, như thông lệ, lợi dụng dịp Đại Hội UBĐKCGVN lần V để gián tiếp theo lệnh nhà cầm quyền cảnh cáo hàng giáo phẩm VN, nhất là miền Bắc. Trước hết, khôn ngoan và xảo quyệt, TBC so sánh hai giáo hội, hai miền trước 1975 và từ đó đánh giá hai giáo hội.


● Đối với Giáo hội miền Nam: Trương Bá Cần đánh giá cao tính cách hội nhập của những người “công giáo yêu nước”.


Tôi rất dị ứng với 4 chữ này. Đánh giá cao hay cố tình đánh giá cao để có dịp đánh giá thấp Giáo Hội miền Bắc nhân vụ Thái Hà. Đó là ngôn ngữ đa chiều của người cộng sản. Khen chỗ này, dập chỗ kia. Ông nêu ra trường hợp vào năm 1962, một số trí thức công giáo như Nguyễn Đình Đầu, Nguyễn Văn Trung và Lý Chánh Trung có cho ra tờ tuần báo Sống Đạo mà đư luận thời đó cho là cấp tiến, có người còn cho là “rối đạo”, cấm không cho bán báo trước cửa nhà thờ. Riêng Trương Bá Cần cho tờ tuần báo Sống Đạo có lập trường Dân Tộc. Nói như thế chữ Dân tộc được hiểu ngầm họ là trí thức yêu nước, tiến bộ, ngả sang phía cộng sản một cách gián tiếp. Thật ra cả hai quan điểm trên đều đánh giá sai, hiểu sai hay cố tình hiểu sai lập trường cùa tờ Sống Đạo như trường hợp Trương Bá Cần. Trung thực mà nói, khi ra tuần Báo Sống Đạo, nhóm trí thức trên chì muốn tuân theo những điều canh tân, đổi mới theo tinh thần của Công Đồng Vatican 2 đã được công bố. Mục đích là thay đổi, canh tân lối sống đạo cho phù hợp tinh thần của Công Đồng. Và hoàn toàn thuần túy tôn giáo, không có tý mưu đồ chính trị nào như ám chỉ “vơ vào, hậu ý” của Trương Bá Cần. Còn đối với giáo dân bảo thủ, bám lấy lối sống đạo cũ thì tuần Báo Sống Đạo trở thành “rối đạo”.


Sau này, nhóm trí thức công giáo có tổ chức “Tuần lễ Xã hội học công giáo” cũng nằm trong tinh thần đó.


Hãy trả lại vị trí đúng mức của tờ Sống Đạo và không bao giờ có chuyện ngả nghiêng như Trương Bá Cần xuyên tạc.


Cái khen của ông ta có tẩm thuốc độc.


Riêng ông Trương Bá Cần muốn gián tiếp kết án vụ Thái Hà bằng cách gán cho giáo hội miền Bắc cái tinh thần của thư chung 1951 khi ông viết:


“Giáo Hội công giáo ở miền Bắc vẫn sống theo tinh thần chống Cộng của các giám mục Đông Dương năm 1951, là không hợp tác với một chính quyền do người cộng sản lãnh đạo nên coi tổ chức yêu nước của đồng bào công giáo là công cụ của chính quyền và nhất là sợ rằng UBLLCGTQ sẽ là manh nha của giáo hội tự trị như ở Trung Quốc. UBLLCGTQ vì thế đã không được hàng giáo phẩm ủng hộ và được rất ít các linh mục tham gia mặc dầu UBLLCGTQ trong suốt 28 năm hoạt động chưa bao giờ tỏ dấu hiệu là đã làm phương hại đến Giáo Hội, ngoài việc động viên đồng bào công giáo yêu tổ quốc, yêu hòa bình.”


Thật sự tôi không muốn đi vào tranh cãi với một người cố chấp và u mê như ông. Trong bất cứ biến cố gi xảy ra, ông vẫn cao giọng lên tiếng kết án và dạy đời đến khó chịu.


Đối với người cộng sản, tôn giáo là vấn đề chiến lược. Sắc lệnh 234 S-L do ông Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng ký ngày 14-6-1955 còn đó. Trục xuất Khâm sứ Dooley 1959. Sau này cũng trục xuất Khâm sứ Lemaitre trong SàiGòn. Bắt giam cầm nhiều năm tất cả những thành phần linh mục trí thức và ưu tú nhất của địa phận Hà Nội như lm Nguyễn Văn Vinh, Phạm Hân Quynh, Nguyễn Văn Thông, Lm Oánh. Giam lỏng Hồng y Trịnh Như Khuê và Trịnh Văn Căn. Theo Hồi ký Tôi muốn sống của lm Lễ, Giám Mục Trịnh Như Khuê đi bộ vòng nquanh sân thượng tòa Giám Mục nhiều đến độ vết giầy của ngài tạo thành một đường vòng cung in hằn trên sân thượng.


Đã có bao nhiêu lượt đi bộ như thế tạo thành một đường vòng cung như thế và cũng là vết hằn của kiên nhẫn và chịu đựng?


Nỗi khổ ấy nào ai thấy được. Nhất là bọn người như Trương Bá Cần.


Mục tiêu dài hạn của chính quyền Cộng sản không hẳn là biến giáo hội công giáo thành Giáo hội nhà nước như bên Trung Cộng. Nhưng ít ra cũng trở thành một công cụ của nhà nước, trung thành và tuân theo pháp lệnh của nhà nước.


Điều mong muốn của họ đã chưa bao giờ có cơ hội thành tựu mặc dầu với rất nhiều biện pháp và cố gắng không ngừng từ 1954 đến nay.


Và nay, một lần nữa với những biện pháp họ đang thi hành ở Thái Hà. Họ chỉ muốn có một Giáo Hội công giáo khuất phục( soumise), biết nghe lời. Và trong quá khứ từ năm 1975 đến nay, vẫn chỉ là những trò chơi cút bắt, những tiểu xáo cá nhân lợi dụng qua lại, “phải quấy” cho yên truyện..


Tôi nhận thức rõ được điều đó. Chưa có một giao hảo trên tương quan hàng ngang, biết tôn trọng những thẩm quyền mặc nhiên lịch sử và hiến chế. Sau quy chế xin-cho đã một thời tạm ổn, người ta thấy rằng không thể mãi mãi như thế được. Không thể cứ xin ngay cả những điều đương nhiên không cần xin và cho những điều không cần cho.


Không bao giờ nên biến tương giao Xin-Cho thành một quy chế pháp lý được. Vì tự nó là điều vô lý không thể chấp nhận được trong một xã hội pháp quyền.


Nêu chưa đối xử giao hảo tốt với nhau thì trước hết, hãy hành xử với nhau dưa trên pháp luật mà cả hai bên đều có thể chấp nhận được.


Và một lúc nào đó, sức căng cứng sẽ được buông ra. Sức mạnh của kiên trì, nhẫn nại và chịu đựng. Nào ai biết nó sẽ như thế nào và đi đến đâu?


Đài (nhà nước) VTV1 về vụ Thái Hà



Trở lại tình cảnh Giáo Hội sau 1954, chúng ta cần nhìn cho rõ mặt. Đó là trường hợp Tổng quản Thanh Hóa, lm Phạm Tần nhận được sắc phong giám mục từ tháng 3-1959, nhưng mãi tới tháng 6-1975 mới được sắc phong. Phải đợi 16 năm trời. Mãi đến nắm 1974, lần đầu tiên, giám mục Trịnh Văn Căn mới được đi Rome họp Thượng Hội Đồng Giám Mục. Ông Nguyễn Mạnh Hà muốn thông tin cho người bạn mình là lm Phạm Hân Quynh về nội dung Công Đồng Vatican 2, để tránh sự kiểm soát của nhà nước, ông xé từng trang một để gửi về. Hầu như toàn thể Giáo Hội miển Bắc không biết tý gì về Công Đồng Vatican 2. Sau 20 năm, hầu như số lm ngoài Bắc không thay đổi gì. Đảng cộng sản hy vọng sẽ xóa sạch số lm còn lại. Cho nên địa phận Hà Nội với 300 ngàn tín hữu còn có 25 linh mục. Hải Phòng150 ngàn/16 linh mục. Phát Diệm 125 ngàn/23 lm. Bùi Chu 300 ngàn/ 27+25 lm chui.


Điều diễn tả trung thực nhất về Giáo Hội miền Bắc vẫn là tên gọi: Giáo hội thầm lặng.


Không ngồi xuống chiêm nghiệm, không hiểu hết nỗi khổ đau ấy.


Thật khốn cùng. Một thứ sống đạo kiểu hầm trú, khô cạn dần. Nhưng dù ít, dù khốn cùng, cộng sản vẫn không thể nào lũng đoạn được tổ chức Giáo hội. Theo Stephen Denney: “Giáo Hội miền Bắc vẫn vững chắc như một nguyên khối, với một hàng giáo phẩm bảo thủ và thường bất hợp tác, các tín hữu phần đời lòng tín ngưỡng sâu xa và trung thành với các linh mục và giám mục, và một nhóm nhỏ các linh mục “tiến bộ”. Vị trí của các linh mục này được quyết định do lòng trung tín của họ đối với đảng và ý thức hệ của đảng hơn là một nền thần học đích thực”( Trích Giáo Hội công giáo tại Việt Nam, Stephen Denney, bản dịch và gìới thiệu của Đỗ Hữu Nghiêm)


Bức tranh toàn cảnh sinh hoạt tôn giáo đã được một cán bộ Cộng sản trong Nam, ông Đỗ Trung Hiếu, sau này bị cs cầm tù vẽ lại không xa mấy hoàn cảnh thực tế các tôn giáo ở miền Bắc. Trong bài viết Con đường Khúc khủy, ông Đỗ Trung Hiếu viết: “Tôi đi thăm một vòng các vùng Thiên Chúa giáo ở Hà Nam Ninh, tòa Tổng Giám Mục Hà Nội, đặc biệt khu Bùi Chu-Phát Diệm, nhà thờ Đá. Tôi đi thăm các ngôi chùa cổ từ tháp Phổ Minh, di cảo Vạn Kiếp, chùa Keo, chùa Tây Phương, chùa Thầy, vùng Trúc Lâm Yên Tử, Côn Sơn của Nguyễn Trãi, tìm hiểu về Tam Tổ đời Trần, vụ án Lê Chí Viên đời Lê, chùa Bộc thờ Vua Quang Trung Nguyễn Huệ gần Gò Đống Đa và về Đền Hùng ở Vĩnh Phúc chiêm nghiễm sự đời.


Đối với tôi, thực tế miền Bắc và lý luận của các bậc đàn anh làm công tác tôn giáo vận ở miền Bắc đều không có sức thuyết phục. Ngược lại chính những điều đó đã gây cho tôi cảm giác ngao ngán. Tôi đã nói những băn khoăn này với ông Nguyễn Quang Huy và Nguyễn Văn Hiệu, nhưng chưa hề đduợc trả lời nghiêm chỉnh.


Hầu hết chùa, nhà thờ ở miền Bắc mà tôi đến thăm đều rêu phong tàn tạ. Các nhà sư (sư ông, sư bà) lẩm cẩm sợ sệt, một bá cáo cụ, hai bá cáo cụ. Các linh mục, giám mục đóng kín cửa lạc hậu với thời cuộc. Phật tử gần như không còn gì nữa, chỉ ẩn hiện dưới dạng mê tín, cúng bái linh tinh và rất e dè trước khách lạ. Tín đồ Thiên Chúa giáo thì khổ cực, hằn sâu trong mắt họ những nét u uất thâm nghiêm, nhưng rực lửa và sẵn sàng bốc cháy khi có mồi.


Đó là mối nguy lớn chứ không phải sự thành công của tôn giáo vận. (Trích Phật giáo Thống Nhất, Hồ sơ Thống nhất Phật giáo, Đỗ Trung Hiếu, trang 53, Tin Nhà).


Câu cuối cùng này tôi muốn nhắn riêng với đám Trương Bá Cần. Đừng làm như thế nữa.


Tôi nghĩ vài nhận xét của ông Đỗ Trung Hiếu đủ để cho thấy những nhận xét hết sức thiển cận và cố tình chà đạp lên lẽ phải, lên thực tế trong bài Tham luận của ông Trương Bá Cần khi ông viết: “Hiện nay chỉ còn một số đồng bào công giáo Việt Nam ở Hải ngoại là còn có thái độ chống Cộng, chống nhà nước Việt Nam Xã Hội chủ nghĩa do đảng cộng sản lãnh đạo và hiện cũng chỉ còn một số người công giáo Việt Nam ở Hải ngoại là còn chống đối UBĐKCGVN một cách quyết liệt. Không lẽ những người đã bỏ nước và bỏ Giáo Hội ra đi như vây mà còn có thể ảnh hưởng trên Giáo Hội công giáo của chúng ta hay sao? Và ông kết luận: “Còn tương lai Giào Hội của Chúa Kitô trên đất nước Việt Nam hôm nay tùy thuộc vào vị trí của Giáo Hội công giáo trong cộng đồng dân tộc. Nhân đại hội này của UBĐKCGVN, chúng tôi xin phép đưọc nêu ra những vấn đề như vậy để tất cả chúng ta cùng suy nghĩ và mong có một lời giải đáp cho một vấn đề 25 năm nay vẫn còn bế tắc”.


Cứ nhìn vào thực trạng giáo hội trước đây và bây giờ cho thấy tình trạng như thế chỉ xảy ra ở nơi nào có chính quyến Cộng Sản. Người công giáo trên khắp thế gìới, người Việt Hải ngoại trên khắp thế giới không cần một thứ tổ chức ngụy danh Ủy Ban Liên Lạc hay Đoàn Kết, công giáo yêu nước v.v... Tất cả chỉ là mỹ từ bịp bợp không cần thiết.


Ông Trương Bá Cần đừng hy vọng chia rẽ Giáo Hội miền Bắc và miền Nam hoặc Hải ngoại. Dù ở những hoàn cảnh địa lý khác nhau, người công giáo khắp nơi trên thế giới vẫn là một. Những luận điệu của ông cho thấy đã trên 30 năm rồi, các ông một nhóm người, cộng chung vài trăm người, chưa bao giờ có khả năng hội tụ người công giáo lại dưới chiêu bài UBĐKCGVN.


50 năm nữa cũng thế thôi.



Với những bức bách mà chế độ cộng sản nhằm áp đặt trên các tôn giáo chỉ làm cho vị thế của Việt Nam bị lẻ loi, cô độc và yếu kém thêm đối với thế giới bên ngoài mà mỗi việc làm sai trái trở thành dư luận cho thế gìới khinh miệt.


Cá nhân những người trong nhóm Trương Bá Cần chả là gì cả. Đối với Giáo Hội Việt Nam nói chung theo nghĩa cả Bắc lẫn Nam, và hải ngoại trước sau vẫn là một khối thống nhất không tách rời được.


Và họ đã từ lâu coi những người như Trương Bá Cần là những kẻ bị khai trừ (Ex-communié). Tư cách gì những kẻ đã bị khai trừ có tiếng nói trong lòng Giáo hội Việt Nam?


Hãy cứ để họ sủa. Đoàn người vẫn tiến lên!


Góp ý của Nguyễn Nam Xương, Nam Cali



Chính Trương Bá Cần và nhóm CG&DT này đã mớm ra cầu "Tu sĩ không làm chính trị" để nhồi vào đầu các giáo sĩ Việt-Nam trong nước cũng như tại hải ngoại. Vì vậy mà một số rất đông giáo Việt-Nam tại hải ngoại có một thời ăn phải bả đều tuyên xưng "Tôi không làm chính trị" để còn về Việt-Nam du lịch. Có vị quan lớn còn được Huỳnh Công Minh vác xe Mercedes chở đi chơi từ Nam ra Bắc, ru ngủ và quảng cáo cho chế độ. Còn một vị quan lớn khác thì xin từ chức chủ tịch một Hội Ái Hữu nọ để được về Việt-Nam du lịch hàng năm thăm bà con. Không làm chính trị, nhưng ông Trần Bá Cương và ông Huỳnh Công Minh và đồng bọn khác thì làm đảng viên Cộng sản, ứng cử vào cái Quốc Hội bù nhìn, hoat động rõ ràng cho chính quyền Cộng Sản thì được gọi là yêu nước chứ không phải làm chính trị. Còn như Lm. Nguyễn Văn Lý, Phan Văn Lợi và Nguyễn Hữu Giải thì bị kết án là "làm chính trị, chống phá nhà nước " Còn Linh Mục Chân Tín cùng với ông Nguyễn Ngọc Lan, tửng nổi cộm những năm 75-76, thì bây giờ cũng đang đấm ngực ăn năn tội từ khi bị VC quản chế.


Số người công giáo ở hải ngoại biết nhiều về những ngón nghề của VC, nói lên, thì bị các giáo sĩ và giáo dân (gia nô theo tác giả Xuân Thái) chụp mũ là "chống Cha chống Chúa". Đến bây giờ sau vụ Tòa Khâm sứ và Thái Hà bị công an đàn áp thê thảm, bị cướp đất trắng trợn rồi đem làm vườn hoa, thư viện. Tổng GM Ngô Quang Kiệt bị vu cáo là chê người Việt-Nam cảm th1ây xấu hổ khi ra ngoại quốc vì mang hộ chiếu Cờ đỏ sao vàng... Mọi người mới ngã ngửa ra mà đấm ngực thì đã trễ. Hữu Thần và Vô Thần sẽ không bao giờ sống chung với nhau được. Vô thần kiểu Cộng Sản là loại lang sói bán nước, tham nhũng hối lộ, vô giáo dục và vô lương tâm.


Ngày trước mỗi lần báo chí nói về hành động HĐGM Việt-Nam khó hiểu và có vể tiêu lòn (xin-cho) Cộng Sản thì phe ta bênh vực và bảo vệ ngay là "các đấng nhà mình khôn ngoan lắm". Khi nói đến những "vô hành động" của Vatican, thì cũng ghe thấy những lời khen ngợi là VATICAN khôn ngoan vô cùng, nhưng sự thật thì Vatican cũng là một quốc gia, vì vậy cũng đặt quyền lợi của quốc gia trên những thứ khác, như ngày xưa vị GH nào tiếp Nguyễn Thị Bình và không tiếp TT VNCH Nguyễn Văn Thiệu. Bay ngang qua không phận Việt-Nam mà lại gửi lời chào mừng Tôn Đức Thắng ở miền Bắc chứ không để ý gì đến dân miền Nam....


Mọi người hãy sáng mắt ra đi...