NHÌN LẠI BI KỊCH CỦA CON NGƯỜI TRƯỚC TỘI ÁC CỦA QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ VÀ NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ TÔN GIÁO VÀ CHÍNH TRỊ

Nguyễn Anh Tuấn (Political Scientist) Đại diện nhóm Vận Động Hòa Đồng Tôn Giáo và Dân Tộc

(Bài số 2)


Lời Mở Đầu:


Sau Tuyển Tập số I về linh mục Nguyễn Văn Lý, Tuyển Tập số 2 với chủ đề Tôn Giáo và Chính Trị đã được anh Hoàng Quý và chúng tôi chủ trương. Ngay từ ngày Lời Đề Nghị Đóng Góp Sản Phẩm Trí Tuệ cho Tuyển Tập số 2 này vừa tung ra, sóng gió tơi bời đã xuất phát từ nhiều phía, kể cả bút chiến. Mũi dùi và áp lực chĩa vào Hoàng Quý và làm cho anh xuống tinh thần. Từ đấy bệnh ung thư máu của anh tái phát dữ dội và anh đã vĩnh viễn nằm xuống sau đó. Trong những ngày hấp hối, vợ Hoàng Quý là chị Thanh Hiền cho biết, Hoàng Quý muốn gặp chúng tôi để nói lời trăn trối. Chúng tôi hiểu nỗi ưu tư lo lắng của Hoàng Quý là phải đi cho đến tận cùng và làm cho Tuyển Tập số 2 được hoàn tất. Và tôi tin đó là trăn trối của anh muốn dặn dò chúng tôi trước khi từ bỏ trần gian đầy đau khổ và hỗn loạn này để vĩnh viễn ra đi.

Là người khởi xướng, Hoàng Quý đã ý thức được rằng muốn ĐEM ĐẠO VÀO ĐỜI thì phải thấy TÔN GIÁO và CHÍNH TRỊ đóng vai trò then chốt cho sự sống hay sự chết cho xã hội con người. Vì thế bằng mọi giá phải làm cho thật sáng tỏ hai phạm trừ giá trị nền tảng này, nếu con người muốn xây dựng lại trật tự quốc gia hay trật tự mới của thế giới (The New World Order) cho Thiên Niên kỷ thứ ba này.

CHÚNG TA ĐÃ PHẠM TỘI....SÁM HỐI, THANH LỌC TÂM VÀ CANH TÂN


Trong cuốn "When A Pope Asks Forgiveness", "The Mea Culpa's of John Paul" (1998) Alba House, NY, Đức Giáo Hoàng John Paul II đã muốn tìm kiếm lại những sự kiện lịch sử dưới ánh sáng của sự thật và nhận hoàn toàn trách nhiệm về những điều xấu và những điều tốt của Giáo hội La Mã. Sau đó ngài đã đưa ra 94 lỗi lầm trong quá khứ của GH và kêu gọi tất cả hãy tha thứ cho những lỗi lầm đó: từ những cuộc Thánh Chiến, sự chia rẽ trong GH đến những vấn đề đối với người Do Thái, và vụ xử Galileo; từ các cuộc chiến tranh tôn giáo giữa Công Giáo và Tin Lành (1618-1648) đến những cái chết kinh hoàng oan ức của các nhà cải cách tôn giáo (reformation) thuộc khối Tin Lành Cơ Đốc giáo như John Hus, John Calvin, Ulrich Zwingli, Martin Luther (1517) đến các Tòa Án Dị giáo (The Inquisition); và từ những vụ đàn áp dân Da Đỏ, Hồi giáo, sự kỳ thị chủng tộc đến lịch sử Giáo Hoàng.

Ngay từ khi có Công Đồng Vatican II, GH Công giáo đã nói về "sự thú tội và lời kêu gọi được tha thứ", và GH chấp nhận trách nhiệm trước lịch sử. Để nói về sự chia rẽ trong cộng đồng Kito giáo, John Paul II đã thẳng thắn nói:

"Chúng ta không yêu thương lẫn nhau. Bởi vì trong nhiều thế kỷ chúng ta đã quay mặt và đã tấn công lẫn nhau. Tất cả các giáo hội Kito giáo, trong đó có cả chính chúng tôi, tất cả đều đã phạm tội chống lại tình yêu, chống lại các lệnh truyền của đấng Cứu Thế... Tôi biết sự chia rẽ giữa những người Kito giáo là một tội lỗi ... và tôi cũng biết rằng sự đoàn kết những người Kito giáo là một hồng ân của Thiên Chúa" (trích trang 39).

Riêng với nhà cải cách tôn giáo là Martin Luther, Đức Giáo Hoàng John Paul II trong một cuộc gặp gỡ vào tháng 7-1970 với Lutheran Federation tại Roma, ngài đã can đảm nói lên một câu nói lịch sử làm cho mọi người rúng động. Ngài cho rằng: "Luther đúng là một bậc thầy chung của tất cả chúng ta về sự lý giải chứng minh về tín lý." (Luther is our common Teacher on the Doctrine of justification) (p.199).

Sau 450 năm kể từ cái chết của Luther, ngày nay John Paul II đã nhận ra những lời kêu gọi GH cải cách trong ý nghĩa khởi đầu là kêu gọi sám hối và canh tân giáo hội, bắt đầu từ đời sống của mỗi cá nhân. Nhưng GH đã thất bại trong việc đáp ứng lại những lời kêu gọi đó. Nhưng ngày nay, Đức Giáo Hoàng John Paul II đã kêu gọi mọi người rằng: "Chúng ta phạm tội, do đó tất cả chúng ta được mời gọi để sám hối và tất cả chúng ta cần thanh lọc tâm và thanh lọc tâm bởi thần khí và lửa của Thiên Chúa."

Đức Giáo Hoàng John Paul II luôn luôn băn khoăn lo lắng về sự chia rẽ giữa đàn con cái có chung một người Cha, có chung một đức tin, có chung một sự thờ lạy, và có chung một hy vọng về sự cứu rỗi. Đó là Do Thái giáo, Kito giáo, và Hồi giáo. Với những người Do Thái thì ngài âu yếm gọi họ là "những người anh cả của chúng tôi". Với những người Hồi giáo thì ngài cũng chân thật gọi họ là "những người anh em của chúng tôi". Bức thông điệp chính của ngài gởi cho những người Hồi giáo là:

1 - Kito giáo và Hồi giáo là những người anh em của nhau đều có chung một Thiên Chúa.

2 - Những người anh em đó phải nỗ lực để vượt lên trên quá khứ với những cuộc chiến tương tàn đã chia cắt chúng ta.

3 - Những người anh em ấy chỉ có thể làm được điều đó khi có sự tha thứ lẫn cho nhau (p.183).

TRA VẤN LẠI LƯƠNG TÂM VÀ DUYỆT XÉT LẠI LỊCH SỬ


Từ 1517, làn sóng cải cách dâng tràn trên 8 quốc gia: Đức, Thụy Sĩ, Pháp, Anh, Hà Lan, Scotland, Norway, và Thụy Điển. Tất cả đều muốn thờ lạy Thiên Chúa trong thần khí và sự thật. Luther đã gắn lên cánh cửa nhà thờ Catle tại Wittemberg, nước Đức, 97 chủ đề cần xét lại. Trước đó John Wycliffe và John Hus đã kêu gọi GH:


1 - Trở về với tinh thần của GH Tiên Khởi.

2 - Sự xá tội đến từ Thiên Chúa, không đến từ Hội Thánh.

3 - Đòi được bình đẳng trong cộng đồng Kito giáo.

4 - Tất cả giáo dân phải được quyền đọc Thánh Kinh.


Ba trung tâm cải cách lớn nhất Âu châu là Zurich, Wittemberg và Geneva.

Riêng Luther thì đòi hỏi ba điều chính đáng:


1 - Giới quý tộc Đức hãy kêu gọi Rome chấm dứt lạm quyền.

2 - Phải trả lại quyền tự do cho Kito hữu.

3 - Con người được cứu rỗi bởi Thiên Chúa, không bởi linh mục và giáo hội.


Tuy nhiên đối với GH lúc đó, tất cả những kẻ cải cách là "lạc đạo" và họ sẽ bị đưa lên dàn hỏa thiêu sống. Vào thời Trung Cổ, nếu có ai bị coi là lạc đạo, trao cho chính quyền đem lên dàn hỏa. Đây là TÒA ÁN DỊ GIÁO ĐÃ ĐƯA ĐẾN BI KỊCH THẢM KHỐC CHO ÂU CHÂU VÀ GIÁO HỘI.

Ngày nay nhìn lại suốt chiều dài lịch sử 2000 năm của GH, biết bao biến cố đã liên tục xảy ra. Sự thăng trầm của lịch sử GH cần được học hỏi thật kỹ lưỡng, khách quan, vô tư để thấy những cái xấu và cái tốt của GH đúng như Đức Giáo Hoàng John Paul II đã chú tâm. Từ lâu tầng lớp trí thức Việt Nam nói chung và giáo dân Công giáo nói riêng không có mấy ai chú tâm tới lịch sử 2000 năm của văn minh Tây phương nên không rút tỉa được những bài học ĐÚNG - SAI của một nền văn minh đã và đang tác động lên tất cả sinh mệnh của lịch sử nhân loại và lịch sử Việt Nam từ bao thế kỷ qua.

Quan trọng hơn cả là những quyết định của GH La Mã mỗi khi xảy ra một biến cố nào đó. Thí dụ như khi các làn sóng chống đối GH nổi lên và kêu gọi đổi thay, chuyển hóa hay cải cách từ đầu thế kỷ 14 và đầu thế kỷ 16 (1320 và 1517). Vào giai đoạn đó thay vì nhìn ra ngay những lỗi lầm của GH, GH đã đàn áp các nhà cải cách để bảo vệ nguyên trạng của giáo hội (status quo). Và tưởng là làm như thế thì hết chống đối, GH có thể đàn áp những nhà cải cách nhưng GH không ngăn chặn được dòng thời gian luân chuyển của qui luật TIẾN và HÓA. Tất cả đang thay đổi và sẽ tiếp tục thay đổi mãi mãi; bởi vì thay đổi là một qui luật bất biến. Vì thế trước qui luật đó con người chỉ có một lựa chọn duy nhất dành cho con người đó là: thích nghi và đáp ứng với hoàn cảnh đang đổi thay một cách khéo léo và uyển chuyển (adaptable, responsible and flexible) để chuyển mình lột xác mà vẫn giữ được sự thăng bằng và khả năng kiểm soát hoàn cảnh của mình.

Nếu GH muốn bảo vệ nguyên trạng của GH trước nhu cầu đổi thay thì GH sẽ phải nhận lấy những hậu quả không sao lường được như thực tế của lịch sử đã chứng minh. Những cái chết kinh hoàng của John Hus, John Wycliffe, Zwingli hay Luther chỉ làm cho ngọn lửa cải cách lan tràn nhanh hơn và lúc ấy GH không còn khả năng đàn áp nữa. Hình ảnh đổi thay nổi bật nhất đã diễn ra ngay trên quê hương của Luther. Nước Đức đã nhanh chóng ĐEM ĐẠO VÀO ĐỜI --- bằng cách đưa đức tin Kito giáo vào mọi khía cạnh của đời sống: chính trị, xã hội, văn hóa và kinh tế. Tại Đức, Kito hữu bình đẳng với tu sĩ; có quyền tìm hiểu lý đạo; mở lớp dậy Kinh Thánh khắp quốc gia; lập lên các hội đồng có cả giáo dân và tu sĩ (B.K. Kuiper, p. 156-159). Sự đổi thay này không dừng lại tại Đức mà lan rất nhanh chóng sang các quốc gia khác để khuấy động tâm tư và gây nên một ý thức xã hội cho các tầng lớp trí thức tinh hoa của các quốc gia Âu châu vào những thế kỷ kế tiếp. Và cuối cùng trở thành những ngọn đuốc soi đường cho tư tưởng cách mạng xã hội khắp thế giới.

Âu châu nhìn lại Đêm Dài Trung Cổ (the Dark Age), kéo dài cả 1000 năm (476-1453), để thấy chính sự suy tàn của đế quốc La Mã vào năm 476 là do ánh sáng Phúc Âm đã soi tỏ cho con người thấy giá trị nhân bản cao quý của họ; và đế quốc La Mã đã tước đoạt và khai thác trục lợi một cách tàn nhẫn trên những giá trị đó của con người. Nhưng từ khi đế quốc La Mã sụp đổ, thì tinh thần Phúc Âm cũng bắt đầu suy vi tàn tạ vì GH không còn là muối cho đời, và không còn là ánh sáng của thế gian nữa. Tinh thần tôn thờ ngẫu tượng (Idol) và bái vật (Idolized materialism) của Âu châu đã lấn lướt tinh thần Kito giáo và đã thống trị cả ngàn năm (476-1453).

LÀN SÓNG PHỤC HƯNG TRƯỚC KHI THỜI HIỆN ĐẠI RA ĐỜI


Giấc mơ và khát vọng phục hưng (renaissance), thay vì tìm lại muối cho đời và tìm lại ánh sáng cho thế gian, thì lại chỉ đi truy lùng săn đuổi những giá trị khoa học và triết lý của Hy Lạp và La Mã; dù sao thì thời đại Phục Hưng cũng mở một cánh cửa lớn lao để Âu châu bước vào ngưỡng cửa của thời HIỆN ĐẠI (Modern Age) (1453-2008). Tất cả các tư tưởng gia, thi sĩ, triết gia, học giả, tiểu thuyết gia và các nhà khoa học thi nhau đem đến cho Âu châu những dòng tư tưởng, triết lý, văn chương và thi ca của thời Phục Hưng. Đây là những luồng ánh sáng dẫn đường và nó đã thành những động lực chính để đẩy tới cuộc cách mạng khoa học (scientific revolution) vào thế kỷ 16; và đến thế kỷ 18 thì khai sinh ra luôn cuộc cách mạng trí thức (intellectual revolution). Thời đại là thời đại mà những con người khai sinh ra nó đã tự đặt cho nó một cái tên rất ư là kiêu hãnh: Thời Đại của Ánh Sáng (the Enlightenment). Từ cuộc cách mạng trí thức đó, con người thấy xuất hiện những tư tưởng xã hội cấp tiến để đưa ra các chủ nghĩa xã hội (socialism) để thổi vào Âu châu. Vì thế cách mạng Pháp (1789) mới bùng nổ.

Tất cả các nhà khoa học thiên tài đều tập trung trong xã hội vương giả (Royal Society) tại Anh. Và tất cả các triết gia, tư tưởng gia, thi sĩ, tiểu thuyết gia thiên tài đều tập trung trong nhóm Bách Khoa (enciclopedie) tại Paris để dìu dắt không chỉ Âu châu, mà toàn thể nhân loại đi vào thời HIỆN ĐẠI HÓA (modernization).

Đặc tính của thời Hiện Đại là nhìn Kito giáo và GH La Mã là kẻ thù chính. Con người vào thời đại này tỏ ra tôn sùng khoa học một cách tuyệt đối và họ cho rằng: "Thượng Đế đã chết" (God was dead: Nietzsche). Và con người đã tự vinh danh mình để cho phép họ đứng vào chỗ đứng của Thượng Đế như những siêu nhân (superman), hay những vị thần. Những suy tư triết lý của thời đại này đã biến thành bom đạn nổ liên tục trên xác thân của đồng loại từ Đông qua Tây và từ Bắc xuống Nam bán cầu. Họ là những người cha đẻ ra các phong trào thực dân, các làn sóng cách mạng đầy bạo lực tàn bạo. Từ đó, Hitler ra đời để mơ ước thành siêu nhân trên nỗi chết kinh hoàng trầm thống của 6 triệu người Do Thái vào đệ II Thế Chiến. Cũng từ đó, Lenine, Staline, Mao Trạch Đông, Pol Pot hay Hồ Chí Minh ra đời để tàn hại 142 triệu con người vô tội trên 27 quốc gia và tròng xiềng xích nô lệ khắc nghiệt lên hơn 2 tỉ con người, trong đó có chúng ta, có những con người Việt Nam đau khổ mất mát trăm bề như hôm nay.

Ngày nay (2008) đọc lại những trang sử của 2000 năm Kito giáo mà nước mắt tuôn rơi. Chúa ơi! Chúa ở đâu? Giáo Hội ơi! Giáo Hội ở đâu? Tại sao trần gian này nhiều đau thương như thế? Tại sao lịch sử của văn minh nhân loại lại không có ánh sáng, mà chỉ có bóng tối âm u ghê rợn như thế này? Tại sao con người từ 3.500 năm nay đã ký giao ước với Thiên Chúa để đem luật giao ước ấy vào đời sống mà cộng đồng nhân loại ngày nay, phần đông vẫn phải sống với luật của rừng xanh? Tại sao Đấng Cứu Thế đã đến trần gian 2000 năm để dìu dắt nhân loại ra khỏi bóng tối thế gian, mà thế gian vẫn không nhìn thấy ánh sáng? Tại sao Đức Thế Tôn và các nhà hiền triết Đông phương cũng xiển dương và rao giảng đạo lý tối thượng từ hơn 2000 năm qua để giúp con người thoát vòng khổ lụy và tìm lại ánh sáng giác ngộ trong một thế giới tăm tối buồn bã này --- nhưng con người vẫn muôn đời mò mẫm trong vô minh và đau khổ.

Trong khi đó thì Thiên Chúa hay Thượng Đế ở khắp mọi nơi và ở trong tâm của mỗi con người. Thượng Đế là bản thể vô hình. Kito giáo gọi là THẦN KHÍ. Các nhà Đạo Học Đông phương gọi là KHÍ HẠO NHIÊN TRONG TRỜI ĐẤT. Chân tâm của mỗi con người có chung một bản thể với trời đất; cái đó gọi là Thiên tính. Trong sách Trung Dung có nói: "Cái phần nguyên lý của Trời phú cho người gọi là TÍNH. Sống thuận TÍNH ấy gọi là ĐẠO. Tu thân sửa mình, hay thánh hóa tâm hồn cho hợp với đạo gọi là Giáo (Thiên mệnh chi vị tính, suất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo). Vì thế Đạo Học Đông phương mới cho biết "Ông Trời là tổ của loài người. Cha là Trời của con người, Trời là Cha của Cha. Không có trời mà sinh ra là việc chưa bao giờ có. Quan niệm Thiên -- Nhân tương thông, hay Thiên -- Nhân tương dữ, có nghĩa là người bẩm thụ tính của Trời, thì cái Thiên đạo cũng là nhân đạo (Đổng Trọng Thư).

Riêng Lão Tử thì cho rằng: "Người cũng lớn như Trời, vì Trời với người chỉ là một, đều do Đạo sinh ra cả ... trong vũ trụ có bốn cái lớn: đại đạo, đại Thiên, đại địa, đại nhân; mà người người bắt chước đất, đất bắt chước Trời, Trời bắt chước Đạo, Đạo thì tự nhiên nhi nhiên" (trang 19).

NHỮNG DÒNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẠO HỌC ĐÔNG PHƯƠNG VÀ THỰC TẾ LỊCH SỬ 2000 NĂM


Ngày nay, nhìn lại các dòng Đạo Học Đông phương từ đời nhà Chu, có Đạo Nho của Khổng Tử (551-479), Lão Tử (430-340), đến đời Hán (200-168), đời Ngụy (223- ), đời Tấn (225), đời Lương (448 AD), đời Đường (723 AD), đời Tống (989 AD), đời Minh (1311), và đời Thanh (1604) gồm có Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử, Trang Tử, Mặc Tử, Đổng Trọng Thư, Dương Hùng, Vương Sung, Chu Đôn Hi, Thiệu Ung, Trương Tái, Chu Hi, Vương Thủ Nhân, hay Vương Dương Minh. Tất cả đều bàn đến THIÊN ĐẠO và NHÂN ĐẠO, chứ không ai đề cao Đạo Lão hay Đạo Khổng.

Từ bao ngàn năm qua, con người chỉ nói đến Đạo Lão, Đạo Khổng -- Mạnh, hay Mặc giáo, nhưng phần đông đã không mấy chú tâm tới THIÊN ĐẠO và NHÂN ĐẠO mà tất cả các nhà hiền triết đã bỏ bao tâm huyết để giảng giải và đem đến cho tất cả các dân tộc Đông phương từ hơn 2000 năm qua. Thiên Đạo chính là vũ trụ đạo (cosmic religion). Trong khi đó, chính Phu Tử đã bao lần nói rằng: Ông chỉ là thứ sùng thượng Thiên Đạo cổ xưa mà thuật lại thôi (thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ). Phần đông con người tự nhận mình theo Đạo Khổng Mạnh, hay Đạo Lão; mà không mấy ai để ý đến Thiên Đạo và Nhân Đạo của con người. Nho quan thì phần đông cũng chỉ tầm chương trích cú nên Thiên Đạo đã bị quên lãng. Tất cả các dòng Đạo Học Đông phương luôn luôn nhắc nhở: "Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong." Con người sống thuận theo Thiên Lý thì sống mà nghịch lại với Thiên Lý thì có sống cũng như chết.

Trang Tử xưa có nói: "Đã bỏ được sống ra ngoài, sau mới được sáng suốt, sáng suốt rồi mới thấy được đạo lý thuần nhất. Vũ trụ căn bản chỉ là một. Thấy vũ trụ căn bản rồi mới vượt được cổ kim; vượt được cổ kim thì vào được cõi Thiên thu bất tử."

Lão Tử thì cho rằng, người, Trời, đất, và đạo đều là lớn cả mà ĐẠO LÀ TỰ NHIÊN, là vĩnh cửu trường tồn, còn con người mà giữ được Thiên tính, thì có chết là chết cái xác thân giả tạm, còn lại thì sẽ đi vào chốn vĩnh hằng.

Trang Tử coi sinh tử chỉ là một; đó chỉ là một hình thức biến hóa (Nguyễn Hiến Lê, trang 63-65) của con người trong vũ trụ thiên nhiên. Trong chương Li Lân, Mạnh Tử cho rằng con người có chỗ thiện, có chỗ bất thiện. Chất bất thiện là chỗ đáng khinh; còn chỗ thiện mới là phần cao cả. Đừng quấn quít với phần ti tiện để mất đi phần cao quý. Nuôi dưỡng cái phần ti tiện thì thành tiểu nhân; nuôi dưỡng phần cao quý thì người đại nhân đáng kính. Ông cho con người có TỨ ĐOAN, đó là nhân - nghĩa - lễ - trí; nhờ đó con người khác cầm thú. Con người khác cầm thú ở chỗ LƯƠNG TÂM; từ đó mới sing ra các điều thiện. Biết nuôi dưỡng cái lương tâm thì thành đại nhân khả kính, không biết nuôi dưỡng lương tâm để nó suy vi tàn tạ thì dễ thành cầm thú. Lương tâm cũng như mầm non, mà những hành động bất nhân tựa như búa rìu. Ngày nào cũng làm điều bất nhân ác đức thì mầm non cao quý ấy phải tàn lụi đi. Lúc đó con người sống không khác nào cầm thú đâu (Công Tôn Sửu, trang 75).

Bên cạnh các nhà hiền triết Trung Hoa, Phật giáo là một kho tàng đạo học vĩ đại của Đông phương. Mục tiêu tối hậu của Phật giáo là giúp con người đừng mê lầm về cái tiểu ngã mà hãy tỉnh thức để tìm lấy cái lý nhất quán, tức là cái đại ngã tâm linh của mỗi người. Vì thế Như Lai thường nói: "Các thầy hãy lấy đại ngã làm đuốc soi đường, lấy đại ngã làm nơi nương tựa, lấy giáo luật làm đuốc soi đường, làm nơi nương tựa, chứ đừng trông cậy vào ai cả. (Bs. Nguyễn Văn Thọ, 21).

Đại ngã là cái ngã ĐẠI ĐỒNG, đó là vũ trụ thiên nhiên đã sinh ra muôn loài. Bổn phận của con người là tìm lấy ánh sáng vĩnh cửu trong tâm của mình. Muốn thế con người phải tìm về với BÁT CHÁNH ĐẠO gồm có chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, và chính định.

Muốn đi vào con đường giải thoát để tìm thấy cảnh giới niết bàn thì phải đi vào Giới - Đinh - Tuệ.

GIỚI: giữ luật vĩnh cửu thiên nhiên và siêu nhiên.

ĐINH: Tập trung tinh thần.

TUỆ: Tuệ giác là tìm được ánh sáng bừng dậy trong trí tuệ.

Đây là con đường giúp con người minh tâm kiến tánh để tìm về với thiện tâm, với chân tâm, với công tâm, hay với bồ tát tâm đang ngủ thiêm thiếp trong mỗi con người.


Thân thị bồ đề thụ

Tâm như minh kiến đài

Thời thời thường phất thức

Vật sử nhạ trần ai.

Như lục Tổ Huệ Năng đã nói:

Thân là cây bồ đề

Tâm như đài gương sáng

Thương ngày chau chuốt

Chớ cho dính trần ai.

(Dịch, Bs. Nguyễn Văn Thọ)


Trong lúc đó, theo Bs. Nguyễn Văn Thọ, kinh Hoa Nghiệm dậy con người sống hết sức tốt đẹp:


Có tâm từ muốn che chở chúng sinh.

Có tâm từ muốn làm ích chúng sinh.

Lòng rộng mở yêu thương và khoan dung.

Lòng vô ngại, không làm trở ngại ai.

Lòng bao la tràn ngập vũ trụ.

Lòng vô biên rộng rãi tựa không gian.

Lòng thanh tịnh có công phu ba kiếp.


Tất cả các nhà hiền triết Đông phương và Đức Phật đã đưa ra bao kinh điển và giáo luật để giúp con người đừng để ngoại vật làm loạn ngũ quan và đừng để ngũ quan làm loạn tâm mình --- bởi vì con người thường chạy theo sắc tướng phù phiếm bên ngoài, thường nhận tiểu ngã ty tiện xấu xa, mù lòa tăm tối là mình mà quên đi cái khuôn mặt đẹp tuyệt vời thiên thu vĩnh cửu của chính mình (spiritual being).

Đó là tất cả ý nghĩa trọn vẹn của lời cảnh tỉnh của Thiên Chúa về cái nguy hại tôn thờ ngẫu tượng và bái vật của con người trong Cựu Ước và Tân Ước.

Vì thế có lần Hi Thiên đã nói: "Thân ta tuy nhỏ bé, nhưng nếu ta phát hiện được Pháp thân ta, được Chân Tâm ta, được Phật tính, thì Pháp thân sẽ bao trùm cả vũ trụ.

Thiền sư Đơn Hà, cũng theo Bs. Nguyễn Văn Thọ, trong một đêm đông đã chẻ tượng Phật, đem đốt đi để sưởi.


Đêm đông chùa cổ ngủ nhờ đêm

Gió thổi, tuyết rơi, lạnh khắp miền

Nay thấy tượng kia, không ích lợi

Chi bằng bổ đốt, sưởi ấm thêm.

(Thiền luận, trang 485)


Tinh thần căn bản của Phật giáo là PHÁ CHẤP triệt để tất cả mọi hình thức của ngẫu tượng, tất cả hình thức của ngoại vật vô thường, của sắc tướng giả tạm để đạt đến cảnh giới thanh tịnh. Từ vọng tâm đưa về chân tâm. Vì thế ngũ tổ Hoằng Nhẫn mới dậy rằng:


Mới hay bản tính vốn thanh tịnh

Mới hay bản tính vốn trường tồn

Mới hay bản tính vốn viên mãn

Mới hay bản tính vốn tĩnh lặng

Mới hay tự tính sinh muôn vật.


Trong lúc ấy kinh Upanishad có ghi:

n

Từ ảo ảnh xin đưa tôi về thực tại

Từ tối tăm xin đưa tôi về ánh sáng

Từ tử vong đưa tôi về bất tử.


Đức Phật thường dặn dò con người rằng: tất cả những gì ta nói chỉ là NGÓN TAY CHỈ TRĂNG, tay ta không phải mặt trăng. Tinh thần thiền tông và Zen của Phật giáo cũng dặn dò, tất cả chỉ là cái bè đưa người từ bến mê sang bờ giác ngộ; sang rồi thì bỏ bè lại, vác bè trên lưng để làm gì? Đó là tất cả tinh thần phá chấp của Phật giáo. Dù Đức Phật không nói đến Thiên Đạo, nhưng không phải thế mà không có Thiên đạo. Con người đừng quên rằng Đức Phật từng nói với đệ tử: Tất cả những gì Ta có thể nói với con chỉ như lá trong lòng bàn tay, và những gì Ta không thể nói lại nhiều như lá trên rừng.

Vì thế, xưa Dương Hùng đời Hán có than thở:

"Thánh nhân ở đời, tủi rằng mình không hiểu rõ được lẽ của vạn vật, còn tiểu nhân thì mong được sống để hưởng lạc. Ôi! Nói là sống, chỉ để sống. Tuy gọi là sống, nhưng thực sự là chết." (pháp ngôn, Quân Tử).

Tất cả các nho gia đều cho rằng, thiên - địa - nhân vạn vật đồng nhất thể. Con người phải theo đúng qui luật thiên để hòa đồng cùng vũ trụ. Trung là cái gốc của vạn vật, hòa là cái diệu dụng của Đạo. Trung hòa hay công chính là luật thiên nhiên đem đến trật tự quân bình trong vũ trụ. Luật thiên nhiên chi phối cả vũ trụ, từ trời đất vạn vật đến con người. Đạo gia xét về chữ tình chú trọng vào lúc nó chưa phát sinh, nếu phát ra rồi thì phải trở lại trạng thái cũ, còn Nho gia thì cho nó phát ra nhưng phải giữ cho nó điều hòa đúng tiết.

Để tình phát ra cho hợp với Đạo lý, Đạo Học khuyên con người phải "CHÍNH TÂM" là vì thế "lòng chứa chấp nhiều giận hờn thì mất thăng bằng; có điều lo sợ thì lòng bất an; có điều ham muốn, mừng vui quá độ thì lòng nổi sóng. Tâm đã đầy bão tố thì thành "VÔ MINH"; mắt nhìn mà chẳng thấy gì; tai nghe mà chẳng hiểu gì; ăn cũng chẳng ngon, ngủ cũng chẳng yên. Vì vậy con người mới cần TU DƯỠNG để điều hòa thất tình, làm sao cố giữ cho được CHÍNH TÂM.

Đổng Trọng Thư cho rằng: "Hỉ, nộ ngừng ở chỗ trung; ái cụ trở về chỗ chính. Lẽ trung hòa giữ được trong tâm thì đạt được sự ứng hợp với Trời đất (Xuân Thu Phồn Lộ). Bàn thêm về CHÍNH TÂM, Trình Minh Đạo cho rằng con người không thể vô tình được, việc đáng mừng thì mừng, đáng giận thì giận. Mừng và giận là do vật, chứ không do lòng mình. Ông cho rằng: "Cái lẽ thường của Thiên Đạo là lấy cái tâm để bao trùm lên vạn vật mà vẫn vô tâm; đối với lẽ của lý đạo thánh nhân lấy tình mà ứng với vạn vật mà vẫn vô tình. Cho nên cái học của người quân tử không gì bằng giữ cho tâm được rộng rãi bao dung mà vẫn công bình, vật tới thì thích nghi ứng thuận... cái gì đáng giận thì giận, cái gì đáng mừng thì mừng, nhưng vẫn giữ được chính tâm. Như vậy vẫn hòa đồng thích ứng với vạn vật. Cái tình của con người dễ phát ra mà con người lại quá yếu đuối nên khó kiểm soát, tiết chế và điều hòa được nên rơi vào hỗn loạn, không còn khả năng để phân biệt phải trái (Nguyễn Hiến Lê, "Triết Học Trung Quốc", trang 119).

Còn Chu Hi thì viết rằng: "có hình hài đó thì có cái tâm đó; mà tâm sở đắc ở Thiên lý, tức là tính, tính ấy cảm ứng với vạn vật thì sinh tình. TÂM - LÝ - TÍNH, ba thứ đó là người ai chẳng có. Nhưng người quân tử thì khí thanh mà tâm vẫn chính, nên cái Thiên tính vẫn trọn vẹn tràn đầy mà vẫn không loạn. Người học đạo nên tồn tâm dưỡng tính và tiết tình để sống với thiên nhiên.

Còn Vương Thủ Nhân thì đưa ra nhận định: "thất tình mà ứng với thiên nhiên thì đó là cái dụng của lương tri. Thất tình mà hiện lên với tư ý là tà dục sẽ làm cho lương tri bị che khuất mịt mờ. Nhờ lương tri mới có tự giác, nếu biết tự giác thì lương tri trong sáng, cái sáng là bản thể tính của lương tri."

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NỘI KHỞI TÂM TRUYỀN VÀ NGOẠI TÁC CÔNG TRUYỀN


Tại Việt Nam, người ta nói về Lão - Phật - Khổng là nói về TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN. Nếu nói THIÊN LÝ TẠI NHÂN TÂM và VŨ TRỤ CHI TÂM thì đó chính là điểm đồng nguyên của Tam Giáo. Tất cả các nhà hiền triết Đông phương đều chú tâm tới Thiên đạo trong trời đất và cái thiên lý trong tâm con người. Nếu Đạo Gia và Đạo Phật thường chú trọng tới CỨU CÁNH TỐI HẬU của kiếp người; thì cùng lúc ấy các Nho Gia lại dồn mọi nỗ lực để giúp cho các xã hội Đông phương xây dựng CỨU CÁNH TẠM THỜI trong cuộc đời trần thế của con người. Nhưng sau hơn 2000 năm qua đi, các xã hội Đông phương vẫn ngụp lặn trong bóng tối vô minh và đau khổ. Con người thờ lạy Lão - Phật - Khổng khắp nơi nhưng phần đông vẫn sống xa lạ với Thiên đạo và Thiên lý tại nhân tâm con người. Vì thế phần đông con người vẫn nhắc đến Đạo Lão, Đạo Phật và Đạo Khổng, nhưng Phu Tử thì vẫn nói: "Ta chỉ là thuật nhi bất tác," còn Như Lai thì nói: "Ta chỉ là ngón tay chỉ trăng, tay Ta không phải mặt trăng. Đền chùa, Thánh Thất cần có cho những con người sơ cơ, nhưng tự giam hãm vào ngẫu tượng và đạo lý chỉ còn là NGOẠI TÁC CÔNG TRUYỀN mà đã mất đi hẳn phần NỘI KHỞI TÂM TRUYỀN.

Sau chót, CỨU CÁNH TẠM THỜI trong cuộc đời trần thế qua bao ngàn năm vẫn chưa xây xong cho các xã hội Đông phương; thì CỨU CÁNH VĨNH CỬU làm sao thành đạt? Khi con người vẫn sống xa lạ với Thiên lý tại nhân tâm và xa lạ với Thiên Đạo thì mối tương quan liên hệ mật thiết giữa Thiên Đạo và con người đã hoàn toàn sụp đổ. Xã hội con người đã sống nghịch lại với trật tự thiên nhiên trong trời đất.

Đó là tất cả những khó khăn mà các dòng đạo lý của Tam Giáo đã phải trải qua bao thăng trầm thử thách trong suốt dòng lịch sử bao ngàn năm. NHÂN ĐẠO CÓ TỨ ĐOAN, tức nhân - nghĩa - lý - trí. Sau này tứ đoan vào thời nhà Tống thì thành NGŨ THƯỜNG hay CƯƠNG THƯỜNG; tức Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín. Đây là nền móng căn bản cho các mối tương quan (relationship) giữa người và người; và người ta gọi đó là NGŨ LUÂN: phu - thê, phụ - tử, quân - thần, huynh - đệ, bằng hữu.

Muốn xây dựng và hoàn thành NHÂN ĐẠO thì phải thuận thiên, tức phải theo Thiên Đạo của trời đất thiên nhiên mà sống. Trời đất có âm có dương, có ngũ hành là kim - mộc - thủy - hỏa - thổ. Chu Đôn Di đời Tống nhận thấy: "Nhị khí âm dương, tuy tương xung, tương khắc, nhưng lại tương hòa, tương hợp để tương sinh nên từ đó vạn vật hóa sinh, từ đó vạn vật lại sinh sinh hóa hóa đến vô cùng; trong đó con người bẩm thụ khí tốt nhất nên linh thiêng hơn cả." Đái Đông Nguyên đời Thanh thì cho rằng con người quý hơn vạn vật là ở chỗ có TÂM (nhân chi thần minh xuất ư tâm). Có tâm, có trí, có tài nên có thể khai thác, sai bảo được vạn vật. Bậc quân tử làm cho cái đức của mình được sáng láng, cho nên trị được thiên hạ (Nguyên Thiện).

Khổng Tử cũng như Đức Thế Tôn, không bàn đến trời nhưng cũng nhận trời là đấng chủ thể của vũ trụ, xếp đặt mọi việc, và trong trời đất có luật thiên nhiên (natural law and divine law) mà con người thuận theo đó mà sống. Vì thế Dương Hùng mới chỉ cho thấy: trời đất xoay vần biến đổi, nhưng không bao giờ ra khỏi lẽ huyền vi được. Đây là cái bản thể của vũ trụ; trong trời đất, nó là cái lý vô hình (Kito giáo gọi là Thần Khí, không thấy được trong con người nó là cái Tâm) (Thái Huyền). Trình Minh Đạo và Trình Y Xuyên thì còn thêm rằng: "Trời và người gốc không phải là hai, bất nhất phải nói thiên nhân hợp nhất. Tâm của ta chính là trời đấy. Phát huy được cùng cực cái tâm của ta thì biết được tính, biết được tính là biết được trời (Ngữ Lực).

Còn Y Xuyên thì làm sáng tỏ thêm Thiên Đạo và Nhân đạo khi ông nói: "Đạo vốn không có sự phân biệt trời và người. Ở trời thì gọi là Thiên Đạo, ở đất thì gọi là Địa Đạo và ở người thì gọi là Nhân Đạo. Đạo với tính là một, cái gốc của tính gọi là mệnh, cái tự nhiên của tính gọi là trời, cái phần có hình của tính gọi là tâm, cái phát động của tính là tình. Tất cả đều là một; thánh nhân tùy việc mà đặt tên." Ngoài ra, Vương Thuyền Sơn đời Thanh còn nói thêm: "Ở trời có âm và dương và ngũ hành, ở người có ngũ quan."

Đứng trước trời đất thiên nhiên luôn luôn luân chuyển, và đứng trước sự sinh sinh hóa hóa của vạn vật, các nhà hiền triết thường cảnh cáo con người: đừng để ngoại vật làm loạn ngũ quan. Đừng để ngũ quan làm loạn tâm mình. Phật giáo nhìn trời đất thiên nhiên là thế giới vô thường, nên cũng khuyên con người đừng để thế giới của sắc tướng phù phiếm làm cho loạn động cái tâm trí của mình.

Ngày nay nhìn lại suốt hơn 2000 năm lịch sử Đông phương, kể từ đời nhà Chu đến đời nhà Thanh, không có thời đại nào mà không có những nhà hiền triết xuất hiện để bàn về Thiên Đạo và Nhân Đạo, nhưng con người chỉ nói đến Đạo Lão, Đạo Phật và Đạo Khổng; rất it người đi theo Thiên Đạo và Nhân Đạo. Các triều đại quân chủ thì họa hoằn lắm mới có được một vị minh quân; còn phần đông đều là thứ u vương ám chúa và thứ nho quan tham ô quan lại thì đầy dẫy. Họ chà đạp lên ngũ thường hay cương thường và vứt bỏ cả ngũ luân là hai nền tảng căn bản của Thiên Đạo và Nhân Đạo của các dân tộc Đông phương để chạy theo cường quyền và bạo lực của chính trị bá đạo để dẫn đến như Toynbee đã nói: sự suy đồi hư hỏng thê thảm của lịch sử con người.

ĐÔNG PHƯƠNG -- QUÊ HƯƠNG TINH THẦN CỦA TẤT CẢ NHÂN LOẠI


Ngày nay (4-2008), duyệt xét lại lịch sử 2000 năm của Đông phương và Tây phương để thấy tất cả cái THÀNH và cái BẠI của hai nền văn minh ấy. Từ đấy tất cả những kinh nghiệm lịch sử lớn lao và sâu dày đó sẽ giúp cho con người thật nhiều bài học vô giá. Con người muốn giúp cho thế giới xây lại trật tự mới của thế giới và xây dựng hòa bình thì phải tạo ra các cuộc đối thoại thành thật và cởi mở giữa Đông và Tây.

Thực ra Đông phương đúng là QUÊ HƯƠNG NGÀN ĐỜI của tất cả các dòng đạo lý và là QUÊ HƯƠNG TINH THẦN của tất cả nhân loại: Cựu Ước, Tân Ước của Do Thái giáo và Kito giáo, Koran của Hồi giáo, Vedas và Unipahishad của Ấn Độ giáo, của Phật giáo, hay các dòng Đạo Học tại Trung Hoa. Tất cả đều là xuất phát từ nguồn gốc Đông phương. Dù Do Thái giáo, Kito giáo và Hồi giáo phát triển rất mạnh từ 2000 năm qua tại Tây phương, nơi tinh thần duy lý và khoa học rất mạnh. Văn minh Tây phương đặt trên ba cột trụ chính là THẦN HỌC, TRIẾT HỌC và KHOA HỌC-- nhưng gốc của Kito giáo vẫn là Đông phương.

Ngược lại, Đông phương thì lại rất yếu kém về LÝ TRÍ và KHOA HỌC, nên các dòng đạo lý thật vi diệu mà không biết cách ĐEM ĐẠO VÀO ĐỜI nên thường chậm tiến, lạc hậu và nghèo khổ. Trong lúc Tây phương tiến bộ vượt bực về khoa học và triết học. Tuy nhiên vì không biết dung hòa giữa giá trị thần học với lý trí và khoa học, nên những tiến bộ cũng tạo ra biết bao thảm họa. Chủ nghĩa nhân bản phàm tục (secular humanism), chủ nghĩa cá nhân vị kỷ (selfish individualism), cộng với tinh thần tôn thờ ngẫu tượng, sùng bái vật chất (materialism) đã tạo cho Tây phương một nền văn minh bái vật (Idolatrous civilization) mà ngày nay nhiều người chưa kịp nhận ra.

Đến đây chúng ta đã nhận ra được đâu là ưu và khuyết điểm của văn minh Đông phương và Tây phương. Cả hai nền văn minh đều rơi vào tình trạng quá độ mất thăng bằng (imbalance); ở đó một bên thì quá chú trọng vào tình thần để rơi vào lạc hậu và nghèo khổ, và một bên thì sống quá giầu sang tiến bộ về vật chất, nên không mấy ai chú tâm tới sự sa đọa, yếu đuối và bại vong về đời sống tinh thần (spiritual corruption). Nói Đông phương chú trọng về tinh thần, nhưng tình trạng lạc đạo (heresy) đã bắt đầu từ khi Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn học trò, nên ánh sáng vi diệu của Thiên Đạo và Nhân Đạo cũng tàn tạ lu mờ như ngọn đèn leo lét trong đêm tối.

Tây phương giải quyết được CỨU CÁNH TẠM THỜI trong cuộc đời trần thế, nhưng lại bị nền văn minh ngẫu tượng và sùng thượng bái vật vây hãm nên CỨU CÁNH VĨNH CỬU sẽ khó mà giải quyết được cho con người.

Còn Đông phương thì ngoài sự lạc đạo về sự hướng dẫn sai lầm của các vương quyền đã lợi dụng và khai thác trục lợi từ các dòng Đạo Học, con người trong các xã hội Đông phương đã bị xô đẩy vào cảnh sống bần cùng triền miên nên CỨU CÁNH TẠM THỜI đã không giải quyết được mà CỨU CÁNH VĨNH CỬU thì quá xa vời trước thực tế quá tăm tối về phương diện vật chất.

Để giải quyết thỏa đáng cho cả hai Cứu Cánh Tạm Thời trong cuộc đời trần thế ngắn ngủi của kiếp người, và Cứu Cánh Vĩnh Cửu cho hạnh phúc muôn đời của con người, con người phải có khả năng nhìn xuyên suốt nguồn gốc của lịch sử con người và định mệnh của con người nằm ở chỗ nào?

Đứng từ góc độ tinh thần của các dòng ĐẠO LÝ ĐÔNG PHƯƠNG mà xét thì lịch sử của con người xuất phát từ các nền văn minh tinh thần của nhân loại (spiritual civilization). Phu Tử cho rằng, "Chân lý toàn thiện, con người cố gắng sống và hành xử theo thiên lý." Bởi vì Trời là chủ thể vũ trụ, có cái ý chí rất mạnh để khiến cho lẽ biến hóa trong thế gian hợp với lẽ điều hòa. Con người không nên làm trái ý trời!

Còn muốn đi tìm cái định mệnh của con người (destiny) nằm ở chỗ nào thì phải nhìn vào Thiên mệnh. Thiên mệnh có ba nghĩa như sau:

1 - Lẽ vô hình, linh diệu của trời đất; có khi hiểu được, có khi không hiểu được. Mệnh gần như luật tự nhiên của trời đất (divine law) mà con người phải biết.

2 - Cứ việc làm theo luật tự nhiên.

3 - Định mệnh con người đã được tiền định.

Xưa Phu Tử có lần buồn bã vì đạo của ông không được người đời theo, nhưng ông không trách trời, không oán người, cứ thản nhiên sống mà đợi mệnh (Thượng bất oán Thiên, hạ bất vưu nhân, cư dị dĩ sĩ mệnh).

Riêng Mặc Tử thì cho rằng, trời luôn luôn thương yêu người hiền lương, phạt kẻ ác độc, như vậy họa phúc của con người đều là kết quả của hành vi, không phải theo số mệnh. Ông cho rằng: "Ngày xưa vua Kiệt làm nước loạn, vua Thang làm cho nước thịnh trị. Vua Trụ làm cho nước loạn, vua Vũ lại làm cho nước thành an bình thanh lạc. Ở vào những thời đại đó, trời không biến đổi mà người dân cũng không thay đổi. Người trên thay đổi chính sự thì dân cũng thay đổi thói tục. Ở thời Kiệt - Trụ thì thiên hạ loạn; ở thời Thang - Vũ thì thiên hạ thái bình an lạc và hạnh phúc. Như vậy thiên trị là nhờ công đức và chính sự tốt đẹp của Thang - Vũ, thiên hạ loạn là tội của Kiệt - Trụ bất chính. Lấy đó mà xét thì việc yên nguy, trị loạn liên quan đến CHÍNH SỰ CHÂN CHÍNH hay BẤT CHÍNH của người trên mà thôi.

Muốn có CHÍNH SỰ thì phải có ĐẠO LÝ CHÍNH TRỊ, muốn có đạo lý chính trị thì phải tuân thủ triệt để Thiên luật (Divine Law) để lấy thiên luật làm mực thước cho thiên hạ. Khi "quân thần, thượng hạ, quý tiện giai tòng pháp", tức là đều theo THIÊN LUẬT; chứ không phải luật của Thương Ưởng và Hàn Phi Tử của đời nhà Tần -- thì thiên hạ phải thái bình. Vì thế thiên luật chính là mệnh trời. Các nho gia cho rằng: "Thiên mệnh chi vị tính, suất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo." Vì thế tôn giáo là giáo hóa con người để con người sống hợp với đạo lý. Đó là chỗ khác nhau giữa đạo lý và tôn giáo.

Cho đến ngày hôm nay ở thế giới Tây phương đã có bao nhiêu người nhận ra sự khác biệt giữa TÔN GIÁO và ĐẠO LÝ? Tôn giáo được lập ra, được tổ chức để thành các cơ cấu để GIÁO HÓA con người. Đó là chức năng của tôn giáo (religious function), Còn ĐẠO LÝ (The Way of God) là THIÊN LÝ hay THIÊN LUẬT của trời đất.

Vì thế, mục tiêu tối hậu của lịch sử là nối lại với tương quan mật thiết giữa con người và đấng TẠO HÓA, THIÊN CHÚA, hay THƯỢNG ĐẾ, là CHA CHUNG của TẤT CẢ NHÂN LOẠI. Mối tương quan được nối lại; bởi vì mối tương quan này đã bị dứt lìa, gẫy đổ kể từ khi con người ăn trái cấm để bị xua đuổi vào thế giới nhị nguyên đối đãi để con người phân chia tan tác thành những thứ "thù đồ". Đồng qui như thu đồ chỉ có nghĩa là qui nguyên nguồn cội muôn thủa của con người --- tức là Thiên lý của đấng Tạo Hóa.

Trình Minh Đạo rất sùng bái Thiên lý, ông cho rằng "lòng người ta không ai là không biết lẽ phải, nhưng bị nhân dục, nên mới quên mất Thiên lý." Vì thế con người mới cần tôn giáo để đem lại cái Thiên lý ấy cho con người. Về với đạo là về với Thiên lý. Thiên lý chỉ có MỘT; cũng như trong trời đất chỉ có một vũ trụ thiên do một ĐẤNG TẠO HÓA cai quản. Con người có nhiều tôn giáo, tức có nhiều đường lối giáo hóa khác nhau; nhưng ĐẠO LÝ và THIÊN LÝ thì chỉ có MỘT. Thiên lý đó có sẵn trong tâm của tất cả con người và tất cả nhân loại (Thiên lý tại nhân tâm); dù đó là tâm của người Do Thái giáo hay Kito giáo; của Hồi giáo hay Ấn Độ giáo; ở Cao Đài giáo hay Hòa Hảo thì đều có trong tâm cái Thiên lý ấy. Tất cả các tôn giáo đã chia rẽ nhau, kình chống nhau và tàn hại lẫn nhau vì không nhìn thấy cái Thiên lý chung đó. Càng chia rẽ càng kình chống và tàn hại lẫn nhau thì càng làm cho cái

Thiên lý lu mờ dần. ĐÓ LÀ NGUYÊN NHÂN CHÍNH ĐÃ TẠO RA TẤT CẢ BI KỊCH NHÂN SINH HÃI HÙNG CHO KIẾP NGƯỜI TRẦN THẾ TRONG LỊCH SỬ.


VĂN MINH TÔN THỜ NGẪU TƯỢNG VÀ BÁI VẬT VÀ CHỦ NGHĨA NHÂN BẢN KHÔNG LƯƠNG TÂM DƯỚI MẮT ĐẠO HỌC ĐÔNG PHƯƠNG


Tất cả những hậu quả lớn lao và những nguy hiểm đã đến với đời sống con người và tiếp tục đến với con người đều do chính con người tạo ra. Chủ nghĩa nhân bản phàm tục của thời Phục Hưng đã làm cho con người quay mặt với Thiên lý, Đạo lý và Chân lý để tự đề cao con người. Con người trở nên kiêu hãnh và tự mãn quá đáng. Chủ nghĩa cá nhân thì biến con người thở nên vị kỷ, vị ngã, vị danh và vị lợi mà quên đi trách nhiệm với Thiên luật của trời đất và vô trách nhiệm với đồng loại anh em. Chủ nghĩa duy vật thì thù hằn với tôn giáo và Thượng Đế để tự rước lấy sự vong thân, vong tính và tha hóa (alienation) đến cùng độ. Cách mạng của bọn duy vật vô thần thì biến xã hội con người thành cầm thú giữa người và người.

Tất cả những quan niệm ấu trĩ và sai lạc về giá trị nhân bản đã tạo cho Tây phương một nền văn minh chỉ biết tôn thờ ngẫu tượng và sùng bái vật chất. Phạm vi tác động, ảnh hưởng và tác hại của nền văn minh ngẫu tượng này không dừng ở biên độ Âu châu mà lan tràn khắp thế giới. Làn sóng văn minh này đi tới đâu là gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến đó -- bởi vì nó đã đánh đúng, đánh mạnh và chính xác vào bản chất yếu đuối và dễ lầm lạc của con người khắp nơi trên mặt đất. Kiêu căng, tự mãn, vị kỷ, vị ngã, vị danh, vị lợi, hận thù với đạo lý và tôn giáo đã làm cho Thiên lý trong tâm con người lịm tắt. Đời sống con người được nhắc đến khi thảo luận về việc phát triển mọi khía cạnh của đời sống, nhưng không thấy ai nhắc đến làm thế nào để giúp con người phát triển đời sống tâm linh và tinh thần để tạo sự thăng bằng cần thiết đối với việc phát triển đời sống vật chất. Phần đông con người trên khắp mặt đất chóa mắt vì sự thành tựu văn minh vật chất của Tây phương nên đã kêu gọi quốc gia của họ rằng, đi vào hiện đại hóa và phát triển thì phải Tây phương hóa (westernization) toàn diện và triệt để. Vì thế toàn bộ nền văn minh tinh thần của cả Đông phương và Tây phương đã bị lu mờ dần cho đến ngày hôm nay.

Từ bao ngàn năm trước, trong kho tàng minh triết của Cựu Ước có cảnh cáo rằng, "vì làm nên những tượng hình đó là bước khởi đầu làm cho tinh thần thành đốn mạt, và sự chế ra các ngẫu tượng (idols) sẽ làm cho đời sống đồi trụy bại vong (wisdom of Salomon 14:12). Tinh thần tôn thờ ngẫu tượng cũng chính là tinh thần sùng bái vật chất của con người trên khắp trần gian này..

Từ hơn 600 năm qua (1453-2008), nền văn minh tôn thờ ngẫu tượng và bái vật đã đưa đến những hậu quả vô cùng đau thương cho con người như đã nói ở phần trên. Con người, như các nhà hiền triết Đông phương cũng đã cảnh cáo tương tự như Salomon: "Đừng để ngoại vật làm loạn ngũ quan. Đừng để ngũ quan làm loạn tâm mình." Đức Phật cũng từng nhắc nhở: "Đừng nhận cái tiểu ngã là mình, và đừng để thế giới sắc tướng phù phiếm vô thường làm chân lý."

Sự chọn lựa lối sống của văn minh bái vật và tôn thờ ngẫu tượng của con người đang bắt con người phải trả giá quá mắc cho sự chọn ấy!

You are what you have chosen to be!

Con người khi quấn quít với đời sống thuần túy ngoại tại (outward world) của văn minh thuần túy vật chất, con người đã đạt được những thỏa mãn đa dạng, nhưng tất cả những thỏa mãn đều chợt đến, chợt đi như đám mây trên bầu trời; đó không phải là hạnh phúc thật. Hạnh phúc thật, hạnh phúc chân chính chỉ xuất hiện khi con người đã trưởng thành, chín chắn về mặt tâm linh (spiritual being). Niềm an vui hạnh phúc thực sự chỉ tìm thấy trong tình yêu, trong tình thương đầm ấm giữa người và người.

Vì thế cái giá phải trả cho những ai chỉ đi tìm kiếm những thỏa mãn nhất thời trong văn minh ngẫu tượng và bái vật là -- họ đã lang thang lạc lối bởi vì mối tương quan giữa con người và thế giới thiên nhiên đã sụp đổ. Ở cuộc sống đó, con người đã mất ánh sáng trong tâm hồn, đã mất niềm an vui hạnh phúc đích thực, đã mất tình yêu chân thật, mất tình người giữa xã hội con người, và mất niềm tin cậy vào đời sống; nhiều khi mất luôn sức khỏe và sức mạnh tinh thần. Đó là hậu quả đến từ sự vong thân và vong tính của con người.

Con người có tai mà không biết nghe, đôi mắt trở nên mù lòa tăm tối, chân bước đi vất vưởng không định hướng hoàn toàn mất lối; miệng lưỡi suy đồi, xấu xa, trái tim liệt cảm điêu ngoa, trí tuệ bị hủy hoại và tâm thì âm u như đêm đen. Đó là tất cả hệ quả khi đời sống tâm linh và tinh thần của con người đã chết (spiritual death). Con người dưới sự hướng dẫn của văn minh ngẫu tượng và bái vật đã chịu những mất mát và đổ vỡ quá lớn lao. Con người sống như cái xác không hồn, liệt cảm, và trở nên xa lạ với chính mình. Con người tự giam hãm mình với cái tiểu tâm, tiểu ngã, tiểu trí, tiểu danh, tiểu lợi để tự chặn đường về với cái đại ngã tâm linh, với Thiên lý, với vũ trụ thiên nhiên, và với đồng loại anh em của mình. Tất cả vì văn minh ngẫu tượng và bái vật không nhận ra là làm thế nào con người có thể xây dựng giá trị nhân bản; mà lại không hiểu nhân tính (humanity) của con người là cái gì.

ĐÓ LÀ SỰ MÙ QUÁNG VÀ THẤT BẠI THÊ THẢM CỦA CHỦ NGHĨA NHÂN BẢN CỦA ÂU CHÂU VÀO THỜI PHỤC HƯNG. Những con người khai sinh, đề cao và cổ súy cho chủ nghĩa nhân bản (humanism) hoàn toàn không biết và hoàn toàn xa lạ với lương tâm, nhân tính của con người. Đó là cái bi thảm nhất của văn minh ngẫu tượng và bái vật của Tây phương và Đông phương.

Bởi vì Lão - Trang đều cho rằng "Đạo là cái nguyên lý tối cao của vũ trụ, thường hằng mà không bao giờ thay đổi, nguồn gốc của vạn vật, cái đức của nó sinh ra trời đất, vạn vật và con người, mà tính là biểu hiện cái đức. Tính vốn chân chất, nếu tính bị vẫn đục, ô nhiễm bởi một cái gì đó thì không còn là tính nữa (trang 85).

Vương Thủ đời Minh đưa ra nhận xét: "xét về trình thể thì gọi là TRỜI, xét về cái phú bẩm cho người thì gọi là TÍNH, xét về cái chủ thể của thân ta thì gọi là TÂM."

Vấn đề chính mà tất cả các nhà hiền triết Đông phương luôn luôn ưu tư trên hết là TÍNH THIỆN ÁC của con người. Đối với các nhà Đạo Học một khi đã coi giáo hóa con người là quan trọng nhất đối với cá nhân, với gia đình và với cả quốc gia, xã hội --- nghĩa là coi CHÍNH TRỊ và ĐẠO LÝ chỉ là một. Vì vậy không thể không bàn đến NHÂN TÍNH được. Tuy nhiên tùy theo quan niệm của từng nhà mà có quan niệm về tính thiện hay ác, mà phương pháp giáo hóa có thể thay đổi. Từ đó do tập tành và thói quen mà tính khí khác nhau. Họ cho rằng, "Tính là phần thiên lý của trời phú cho tất phải thiện." Mạnh Tử cho rằng con người có chỗ tính thiện và có tính ác. Nuôi dưỡng cái tính ti tiểu thì thành tiểu nhân, nhưng nuôi dưỡng phần tính tốt cao thượng thì thành quân tử.

Tuân Tử thì nhận thấy, "Tính con người sinh ra là hiếu lợi, sống theo tính ấy thì thành ra tranh đoạt xâu xé vì lòng vì lòng từ nhượng không có; từ đó sinh ra đố kỵ, sống theo tính đó thì dễ sinh ra đạo tặc bạo tàn vì không còn lòng trung tín; sinh ra ham muốn của tai mắt, thích thanh sắc, sống theo tính đó thì thành ra dâm loạn vô luân chỉ vì lễ nghĩa không có... cho nên phải có khuôn thước và thầy để giáo hóa các tính ấy, có lễ nghĩa để uốn nắn, dìu dắt rồi sau mới biết lẽ phải và lòng từ nhượng, hợp với thiên lý và đạo lý mà thành ra trị. Đó là phần vụ của CHÍNH TRỊ và GIÁO DỤC."

Cáo Tử thì đưa ra quan niệm: "tính người như dòng nước chảy mạnh, khơi qua đông thì nó chảy qua đông, khơi nó qua tây thì nó chảy qua tây." Đời Tống có Vương An Thạch và Tô Thức thì bổ túc thêm vào: "Tình sinh ra từ tính, có tình sau mới có thiện ác. Còn tính thì không gọi là thiện - ác được. Người xưa bảo hỉ, nộ, ái, ố, ai, cụ, dục là tình đấy ư? Hỉ, nộ, ái, ố, ai, cụ, dục nếu biết tiết chế và điều hòa cho hợp với đạo lý và nghĩa thì là thiện. Thất tình mà buông thả theo nhân dục là bất thiện dễ thành bất nhân."

Trong sách Trung Dung và Đạo Học có bàn luận về chữ TÌNH, trong đó Phu Tử nói: "Mừng, giận, thương ghét, vui buồn chưa phát ra thì gọi là Trung; phát ra đúng chừng mực thì gọi là hòa. Trung là cái gốc lớn của thiên hạ, hòa là con đường đồng nhất trong thiên hạ. Nếu trung hòa hết mực thì trời đất yên vị, muôn vật từ đó mà sinh sôi." (trang 117).

Nói tóm lại, mặc dù chủ để Tôn Giáo và Chính Trị quá bao la, không thể nào đưa ra được một định nghĩa ngắn gọn và đơn giản được, nhưng khi duyệt xét lại lịch sử như chính Đức Giáo Hoàng John Paul II đã kêu gọi: "Chúng ta đã phạm tội... phải sám hối, thanh lọc tâm và canh tân." Từ đó đưa chúng ta trở về với tinh thần Giáo Hội Tiên Khởi. Muốn thế phải nhìn lại đặc tính của thời Phục Hưng tại Âu châu để tìm kiếm lại sự thật của lịch sử. Điều quan trọng nhất là các DÒNG ĐẠO HỌC ĐÔNG PHƯƠNG để phân biệt đâu là chính giáo, đâu là tà đạo và đâu là BÁ ĐẠO và đâu là VƯƠNG ĐẠO. Các tôn giáo và các tín hữu phải có khả năng để phân biệt thế nào là NỘI KHỞI TÂM TRUYỀN và thế nào là NGOẠI TÁC CÔNG TRUYỀN để đi về với CHÍNH GIÁO. Khi con người đã nhận ra Đông phương chính là Quê Hương Tinh Thần của tất cả nhân loại thì phải tìm mọi cách để phát huy TÂM ĐẠO. Chính Thiên Đạo và Tâm Đạo là nơi gặp gỡ của Đông phương và Tây phương. Cả hai nền văn minh Đông phương và Tây phương đang chịu chung một thử thách cực kỳ lớn lao -- đó là sự va chạm không phải là giữa Đông phương và Tây phương --- mà là SỰ VA CHẠM KHỐC LIỆT GIỮA VĂN MINH TINH THẦN VÀ VĂN MINH TÔN THỜ NGẪU TƯỢNG VÀ BÁI VẬT, và SỰ VA CHẠM KHỐC LIỆT GIỮA LƯƠNG TÂM CỦA CON NGƯỜI VÀ BỌN VÔ THẦN. Tất cả đã làm nên tội ác vĩ đại của chính trị bá đạo và tạo nên cái mà Toynbee gọi là: "Sự hư hỏng suy đồi thê thảm trong lịch sử của con người."