Đức tin Tông truyền của Hội thánh đang bị phân hoá trong Giáo hội Việt Nam

Phạm Minh Tâm

Giáo hội là Mẹ, Giáo hội là Thầy nhưng con cái của Giáo hội thiếu sự bảo bọc, thiếu vắng những việc làm thiết thực và trực tiếp đáp ứng các nhu cầu của họ giữa khi người ta chỉ nhìn thấy Giáo hội càng ngày càng hướng ngoại theo cách thế phô diễn những hình thái phát triển bên ngoài kiểu như đã có nhận định là “Tôn giáo lễ hội”

Theo một thống kê của Toà thánh năm 2004 thì tổng số người Công giáo trên khắp thế giới đã vượt qua mức một tỉ người. Nói đúng con số là 1,098,000.000 tín hữu. Tỷ lệ gia tăng này đi song song với tỷ lệ gia tăng dân số trên thế giới, song tại Á Châu thì tỷ lệ Giáo Hội Công giáo chỉ đạt mức khoảng 3% dân số và riêng tại Việt Nam, tỷ lệ người Công giáo cũng chỉ vào khoảng 6% so với tổng số khối dân trên 80 triệu. Nếu đem tỷ lệ này so với việc phát triển bề ngoài như xây dựng các cơ sở vật chất của các dòng tu và xứ đạo trong mấy thập niên gần đây thì mức độ tăng tiến về con số người tiếp nhận Tin Mừng Cứu độ như trên quả là hơi khiêm tốn. Điều này thật khó vội vàng quy kết nguyên nhân là ở đâu, song nếu thẳng thắn một chút, tâm thành một chút thì những ai ý thức mình là người có trách nhiệm chủ đạo sứ vụ rao giảng phải đấm ngực nhận ra ngay phần lỗi chính là đã không sống trọn ơn gọi làm tông đồ của mình. Bởi vì, hãy thử nghĩ xem, đạo Chúa không phải dở, không lạc hậu hay bất cập nhân tình; không xa rời các thực tại nhân sinh mà là một siêu phẩm thật trọn hảo của nhân ái, của công bằng, đáp ứng đủ những gì mà con người khát khao tìm kiếm. Nhưng tại sao Đạo lại không đuợc nhiều người tiếp nhận? Vậy, hiển nhiên là những người đi “tiếp thị” đã hoặc là tắc trách trong bổn phận hoặc đi sai đuờng nên không có sức thuyết phục nhiều.

Theo ơn gọi làm môn đệ của Đức Ki-tô và qua sự hướng dẫn của Hội thánh thì sống Đức Tin Ki-tô giáo đúng mực là “Ở đâu có người thiếu ăn, thiếu uống, thiếu mặc, thiếu nhà ở, thiếu thuốc men, thiếu việc làm, thiếu giáo dục, thiếu những phương tiện cần thiết để sống xứng danh con người, ở đâu có người bị đau khổ vì nghịch cảnh, ốm yếu, chịu cảnh lưu đầy, tù ngục, thì ở đó bác ái Ki-tô giáo phải tìm gặp, ân cần săn sóc, ủi an và xoa dịu họ bằng những trợ giúp thích đáng….” thì ở đó Giáo hội phải có mặt. Song thực tế thì sao? Với một Quê hương nghèo và khối anh em đói, khổ nhiều mặt thì Giáo hội đã hiện diện ra sao?

Giáo hội là Mẹ, Giáo hội là Thầy nhưng con cái của Giáo hội thiếu sự bảo bọc, thiếu vắng những việc làm thiết thực và trực tiếp đáp ứng các nhu cầu của họ giữa khi người ta chỉ nhìn thấy Giáo hội càng ngày càng hướng ngoại theo cách thế phô diễn những hình thái phát triển bên ngoài kiểu như đã có nhận định là “Tôn giáo lễ hội”

Kể từ sau năm 1975 trở đi, Giáo hội Công giáo gần như càng ngày càng bị rơi vào tình trạng bị khủng hoảng về lãnh đạo và khủng hoảng về đuờng lối, về cung cách thực hiện mục vụ nếu không muốn nói là đã phản bội niềm tin Tông truyền của Hội thánh; đã quay ngược lại với lý tưởng mình để chiều chuộng, để vâng phục theo những yêu sách của nhà cầm quyền mà chắc chắn là bất lợi cho Giáo hội.

Đây chính là vấn đề lớn của Hội đồng Giám mục Việt Nam, một vấn đề khá phức tạp mà trong cộng đồng Dân Chúa, ít ai dám đề cập tới. Không dám, phần vì tình trạng phong kiến tâm linh vẫn còn, nên cái tâm lý của phần lớn giáo dân vẫn cứ chỉ vâng phục theo một lối mòn xưa nay chờ sự dẫn giắt của các giáo sĩ mà cũng phần vì giáo dân không biết rõ nhiệm vụ của mình phải làm, không nắm vững thế đứng của mình trong Giáo hội và đã đuợc mời gọi như thế nào theo hướng đi của Công đồng Vatican II mà cụ thể nhất là Sắc lệnh Tông đồ Giáo Dân. Nói đến cái tên “Công đồng Vatican II” lại cũng là một vấn đề nữa, bởi vì thực tế ngay trong giới giáo sĩ cũng chưa dễ gì đã có nhiều người chịu đọc để học hỏi, để biết mình phải làm gì cho mình và cho anh em mình. Giáo hội hoàn vũ thì luôn phải nghĩ đến việc canh tân những nguyên tắc đạo đức phù hợp với đức bác ái và công bằng trong khi Giáo hội Việt Nam cứ đủng đỉnh với một số lập luận vừa rỗng vừa sáo để ru ngủ đại đa số tín hữu theo kiểu “chìm xuồng” và “huề vốn”.

Chẳng hạn, ngay vào năm 2000, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô đệ nhị đã minh-định:

“Công đồng Vatican II đã cho chúng ta nhiều tặng thưởng quý giá từ 35 năm qua và còn tiếp tục dẫn đưa chúng ta trong nhiều năm nữa. Công việc của Giáo Hội bây giờ là học hỏi những điều đã đề ra trong những văn kiện của Công Đồng và đem ra thực hành có hiệu quả…” nhưng trong Niên giám của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam ấn hành năm 2004 đã giải thích về tình trạng này như sau: “Giáo hội Việt Nam, trong thời gian trước đây, từ năm 1965 đến 1975, do hoàn cảnh chiến tranh của đất nước, chưa có dịp học hỏi kỹ lưỡng các văn kiện của Công đồng, trừ một vài giáo phận ở miền Nam Việt Nam. Chỉ trong các thành phố và đô thị lớn, giáo dân mới có dịp học hỏi về Công đồng này ít nhiều, còn lại hầu như chẳng mấy khi nghe nói đến, nhất là ở miền Bắc Việt Nam. Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, dân tộc ta lại gặp nhiều khó khăn, vì thế các bài học đổi mới, hợp nhất của Công đồng hầu như ít được nhắc đến như những định hướng cơ bản cho Giáo hội Việt Nam…”

Trước 1975 thì tại vì chiến tranh, còn sau 1975 thì lại gặp nhiều khó khăn, thế thì chẳng biết đến đời nào Hội đồng Giám mục mới thi hành đuợc nhiệm vụ giáo huấn của mình trong khi từ Bắc chí Nam cứ rầm rộ xây cất và mở mang về mặt cơ sở vật chất và những sinh hoạt nặng tính phô trương, ham hố kiểu thế tục.

Tại sao một khi đã biết nhận rằng các bài học đổi mới, hợp nhất của Công đồng hầu như ít được nhắc đến như những định hướng cơ bản cho Giáo hội Việt Nam … mà vẫn không bắt tay làm ngay trong hoàn cảnh trước mặt, thay vì hết năm này tháng nọ cứ lo vun quén cho nguyên tắc “đối thoại” và “hợp tác” với nhà nước cộng sản. Như vậy, phải chăng các vị dư biết thực tế “đối thoại” hay “hợp tác” chỉ là những tấm màn mỏng nhằm che đậy sự hèn yếu bạc nhược của mình mà thôi nhưng vẫn lẽo đẽo chạy theo hai chữ này như một điệp khúc nhàm chán để tránh né chu toàn bổn phận chính yếu là sống đúng Đức Tin Tông truyền như Hội thánh đòi hỏi là “Ki-tô hữu cần phải khiêm tốn đặt mình trước Nhan Chúa, xét mình về trách nhiệm mà họ cũng phải gánh chịu đối với những sự dữ của thời điểm chúng ta” để chỉ lo đi nói thoả hiệp với một chính quyền bất công, gian trá.

Cuối cùng thì việc gì đến tất nhiên phải đến. Đó là đã có những giáo dân hiểu đuợc điều cấp thiết là phải trưởng thành, phải nhận thức đuợc tình trạng suy thoái này của những người lãnh đạo Giáo hội mà mạnh dạn và thẳng thắn lên tiếng; phải nhận định và phân tích thực trạng cách rốt ráo như là một bổn phận hàng đầu vừa là để góp ý với “các đấng bậc”, lại cũng vừa muốn cùng anh em đồng đạo chia sẻ những ưu tư và trách nhiệm của mình… và cũng dễ hiểu là tại sao những tiếng nói này cứ phải xoay quanh Hội đồng Giám mục. Bởi vì theo cơ cấu tổ chức của Giáo hội, không nhìn vào các giám mục thì nhìn vào ai đây và không phê phán sao đuợc khi các vị nắm vai trò chủ chốt trong việc vạch hướng đi chung cho Dân Chúa phù hợp với Tin Mừng và huấn giáo của Hội thánh nhưng các vị đã làm ngơ và làm thinh trước mọi vấn đề nhân sinh, xã hội; đã quay lưng lại với người nghèo, người bị áp bức, bị bóc lột….

Và rồi, một khi Hội đồng Giám mục như vậy thì các linh mục, tu sĩ sẽ ra sao khi họ là những thừa tác viên của giám mục để chia sẻ và thừa hành các nhiệm vụ thánh hoá, quản trị và giáo huấn. Chính trong kỳ Đại Hội Dân Chúa vừa qua cũng đã nhìn nhận rằng tình trạng trì trệ trong Giáo hội Việt Nam hiện nay xuất phát từ hàng ngũ giám mục và linh mục, cho nên muốn canh tân thì cũng phải bắt đầu từ đấy, từ ngay những người đang lãnh đạo và hành xử năng quyền theo kiểu quan chức, thư lại sống theo thói đời hơn là những mục tử nhân lành theo đòi hỏi của Đức Ki-tô.

Có một điều phải thẳng thắn nhìn nhận là trong tập thể “đấng bậc” hiện nay có rất nhiều thành phần hơi bị thấp về mọi mặt, nghĩa là cả chuyên môn lẫn kiến thức chung. Còn về trình độ “nội tâm, tư duy, tu đức” thì lại càng bi quan hơn….mà như gần đây, trong cộng đồng Dân Chúa đã có nhiều dư luận chuyền cho nhau về từng cá nhân giám mục này, giám mục kia vấp phạm nhiều lẽ do bởi lối sống và hành vi phản Tin Mừng, phản sứ vụ Tông truyền.

Cứ nhìn vào kỳ Đại Hội Dân Chúa kỳ vừa qua sẽ thấy. Toàn tập tài liệu làm việc không nói lên đuợc gì. Đa số chép lại bài bản mà hình như không nắm hết ý, chỗ nào nghĩ ra đuợc thì lại không trọn nghĩa của điều muốn nói…nghĩa là nói chung đầu óc các vị chỉ lo hướng ngoại để né, để chống, để đỡ và để tìm chỗ an bình nên nó cứ luẩn quẩn, loanh quanh. Chưa kể có một số lại vừa lười suy luận, có thể vì thiếu chiều sâu, thiếu nền tảng lại vừa ham danh háo điạ vị với đầu óc đặc cứng quan niệm sai lầm thuở xưa là làm giám mục thì chẳng cần làm gì mà vẫn là làm tất cả; là không ai có quyền phê phán vì đã nhận cây gậy chăn giắt rồi thì chỉ chỏ sao cũng đuợc.

Thử hỏi, trong xã hội Việt Nam giữa hoàn cảnh hiện nay, người dân phải gánh chịu đủ thứ bất công và bất hạnh mà những chữ công lý, hoà bình có được Hội Đồng Giám Mục đặt nặng không mặc dù cũng có lập ra một Ủy ban Công lý và Hoà bình? Người dân đã dư lẽ với kinh nghiệm rằng công lý ở Việt Nam là tất cả những gì đi ngược lại công ích, không thuận theo luật công bằng xã hội và là công an… cho nên nếu chỉ lập ra một Ủy ban suông thì chẳng khác gì đi dùng dầu cù là bôi lên cục bướu độc mà thôi… Có công lý hay không cứ hỏi Đức Tổng Kiệt, Đức cha Hoàng Đức Oanh, hỏi giáo dân Thái Hà, Đồng Chiêm; hỏi dân Cồn Dầu và linh hồn anh Nguyễn Thành Năm …chẳng hạn hoặc tìm cho ra lý lẽ câu Chúa nói “Hãy đi lo cho những con chiên của ta” còn thiết thực hơn. Hội đồng Giám mục Việt Nam luôn nhân danh hai chữ Giáo hội và huynh đệ để tô chuốt những câu văn mục vụ nhưng mà Giáo hội nào, huynh đệ ra sao khi gạt anh em Dòng Chúa Cứu Thế ra khỏi Đại hội Dân Chúa như đá trái banh phạt đền vậy?

Gần đây là vụ việc Cù Huy Hà Vũ, chỉ có một mình giám mục chủ tịch của Ủy Ban Công Lý và Hoà Bình phản ứng yếu ớt và gián tiếp bằng việc ký tên vào một thư chung xin bãi bỏ bản án. Rồi mới ngày 27/5/2011 vừa qua, cũng chính Ủy ban này của Hội đồng Giám mục Việt Nam tổ chức buổi toạ đàm để vừa chính thức ra mắt Ủy ban, vừa thảo luận về trình trạng công lý và hoà bình tại Việt Nam thì số các giám mục tham dự không đủ đếm trên đầu ngón tay vì chỉ có hai giám mục Đặng Đức Ngân và Tri Bửu Thiên đến dự buổi sáng, còn Tổng giám mục chủ tịch Hội Đồng Giám Mục thì đến đọc diễn văn, ăn trưa xong là rút lui ngay mà không dự thảo luận trong các tổ, trong khi đúng ra đây mới chính là cơ-hội ngài cần phải tận dụng để lắng nghe mà thấu hiểu nguyện-vọng dân tình thì lại bỏ phí rồi chiều mới trở lại nghe đúc-kết; Tổng giám mục Sài gòn chỉ đến vào buổi chiều, còn giám mục Phụ tá Sài gòn cũng không có mặt. Thử hỏi như thế thì khí thế và trách nhiệm của các vị ở đâu?

Còn lại thì, ai cũng thấy các vị bị lệ thuộc vào cái nhà nước thế gian này nhiều quá, nhận của thế gian này nhiều quá cho nên quý vị cứ bị trói dần vào một điều lệ bất thành văn là quy chế “XIN – CHO” . Xin ra sao và cho thế nào thì đã quá rõ với rất nhiều những cái quý vị xin mà không đuợc cho như không được thoải mái ấn hành các sách Đạo, không đuợc lo về lãnh vực y tế và giáo dục nhưng lại phải nhận những cái họ cho khi không cần thiết để xin như giảng dạy chủ nghĩa Mác-Lê trong Đại chủng viện…. Cho nên tuy sứ mạng của Hội thánh không phải là làm chính trị, nhưng Đức Tin Tông Truyền lại vạch ra sứ vụ cho Hội thánh là phải lên tiếng can thiệp với bất kỳ một thể chế chính trị nào không tôn trọng những quyền căn bản của con người, phải quan tâm đến bất cứ những gì liên quan đến con người.

Chúng tôi quan niệm khi nói lên sự thật, dù là sự thật đau lòng, vẫn còn hơn là che dấu nó trong sự phỉnh gạt qua cái vẻ bề ngoài hào nhoáng, cho dù chúng tôi có thể bị chụp mũ là gây chia rẽ, là làm giảm uy tín các đấng bậc hay như một vài vị đã đổ vạ nặng nề là bức tử Giáo-hội quê nhà. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn vững tin vào sự suy luận sáng suốt của cộng đoàn tín hữu để cùng chúng tôi nhận định xem nếu các vị giám mục Việt Nam có uy tín thực sự thì ai có khả năng làm giảm nổi, nếu các vị đồng lòng nhất tề theo hướng đi Tông truyền, theo đúng tinh thần đuợc sai đi thì ai chia rẽ nổi, thì ai dám xuyên tạc hay vu khống….

Chân lý chỉ có một là sự thật đến từ nơi Thiên Chúa và bảo vệ sự thật là trách nhiệm chung của bất kỳ ai với ý ngay lành, nên từ lời đoan quyết của thánh Gia-cô-bê, chúng tôi xác tín rằng: “ai biết làm điều lành mà không làm là có tội.”

Phạm minh Tâm