ĐỨC CHA KIỆT VÀ CÁCH CƯ XỬ CỦA MỘT “GENTLEMAN”
Mặc Giao
Bây giờ nói về Đức Cha Ngô Quang Kiệt. Đúng là ĐC bị bệnh mất ngủ và trầm cảm. Đúng là ĐC đã làm đơn xin Đức Giáo Hoàng cho từ chức để đi chữa bệnh. Vấn đề cần suy nghĩ là vì sao ĐC mắc phải những chứng bệnh đó? Có phải vì chịu đựng quá lâu và quá nặng áp lực của thế quyền? Có phải vì thấy bị Tòa Thánh và anh em trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam bỏ rơi?
Có phải vì thấy những người có trách nhiệm trong Giáo Hội không ủng hộ cuộc đấu tranh ôn hòa đòi công lý và nhân quyền, không một lời bênh vực, an ủi khi giáo dân vô tội bị đánh đập, tù đầy, và chính mình bị lăng nhục, dọa giết? Trong hoàn cảnh đó, mất ngủ và buồn rầu là chuyện tự nhiên phải xảy ra. Và khi thấy tình thế trong và ngoài Giáo Hội như vậy thì xin từ chức cho rồi, để khỏi gây khó cho Tòa Thánh và một số đồng sự trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Nhìn bề ngoài, trông Đức Cha hơi gầy nhưng vẫn mạnh khỏe, vẫn thi hành đầy đủ chức năng của một vị tổng giám mục, giọng nói vẫn tốt và cách ăn nói vẫn thông minh, khôn khéo, thể hiện rất rõ trong bài chào mừng ĐC Nhơn ngày 7-5-2010 và thư từ biệt tổng giáo phận Hà Nội ngày 13-5-2010.
Mất ngủ và trầm cảm mà còn cư xử khôn ngoan như thế thì đó không phải là bệnh mãn tính, mà là bệnh thời thế. Xin đừng lấy cớ Đức Cha Kiệt cáo bệnh xin từ chức để rửa hết mọi trách nhiệm về việc bổ nhiệm mới nhằm đáp ứng đòi hỏi của nhà nước.
Nói về cách cư xử của ĐC Kiệt, người ta thấy ngài đã hành động theo cung cách của một “gentleman”, người lịch sự, có nhân cách, biết tự chế, không gây khó cho người khác, nhất là người kế nhiệm, đồng thời thực hiện đức vâng lời đối với bề trên. Đức Cha không than phiền, chỉ trích, kết án hay đổ lỗi cho ai. ĐC âm thầm chịu đựng, lặng lẽ chấp nhận vai trò nạn nhân.
Đức Cha còn có những cử chỉ đẹp đối với người kế nhiệm: tổ chức lễ ra mắt long trọng cho ĐC Nhơn tại Hà Nội ngày 7-5-2010, lẳng lặng rút lui, không làm lễ tiễn biệt linh đình để tránh cho người kế nhiệm những khó xử khi giáo dân bầy tỏ thái độ. Xin đừng xử dụng sự nhẫn nhục và lối “chơi đẹp” này để chối phăng những mưu mô, tính toán, xếp đặt của phe mình.
Bề ngoài, ĐC Kiệt đã cư xử một cách không ai có thể chê trách, nhưng bề trong, với bản tính con người, ĐC đã đau khổ rất nhiều. Một số người thân tín đã được ĐC tiết lộ là ngài đã khóc khi thấy bị bỏ rơi. Trong dịp chữa bệnh lần trước tại La Mã, ĐC không được Đức Giáo Hoàng và các Hồng Y lãnh đạo giáo triều tiếp kiến hoặc thăm hỏi, vấn an. Việc bỏ rơi cho nhà nước cộng sản “hành” còn xảy ra vào ngày chót của ngài tại Việt Nam.
Có nguồn tin (còn đang tranh cãi đúng sai tới đâu) là ĐC Kiệt không muốn rời VN, chỉ muốn rút về nhà dòng Châu Sơn ở Nho Quan, Ninh Bình, để nghỉ ngơi và cầu nguyện. Ngài đã hẹn cả chục thân nhân từ miền Nam ra gặp ngài tại đây. Họ đã mua vé máy bay và chờ ngày hội ngộ. Ngày 12-5, ngài trở về Châu Sơn sau khi dự kễ kim khánh linh mục của ĐC Thuyên thì chuyện không chờ đợi xảy ra: ĐC Nhơn từ Hà Nội xuống Châu Sơn yêu cầu ngài trở về tòa tổng giám mục gấp. Ngài trở về ngay buổi chiều, và ngay đêm hôm đó phải xách khăn gói lên máy bay rời khỏi đất nước!
Mọi sự đã có người lo sẵn, từ vé máy bay tới visa xuất và nhập cảnh. Những uẩn khúc của chuyến đi này chưa được chính thức làm sáng tỏ, nhưng có điều chắc là thế quyền cộng sản chẳng những muốn ĐC Kiệt đi khỏi Hà Nội mà còn buộc ngài phải rời khỏi Việt Nam.
Ngài còn ở lại đất nước, dù bất cứ ở chốn sơn cùng thủy tận nào, thì vẫn là điểm thu hút giáo dân và là niềm hy vọng của họ. ĐC Kiệt đã hiểu thân phận của mình. Ngài đã thu dọn và sửa soạn sẵn hành trang trước ngày 6 tháng 5, ngày ĐC Nhơn đến Hà Nội. Ngài muốn đánh ván bài chót với hy vọng được ở lại quê hương, nhưng đã thua lòng hận thù và sự đồng lõa.
Trong thư từ biệt ngày 13-5-2010, ĐC Kiệt đã từ giã giáo dân bằng việc ôn lại những ngày khó khăn tranh đấu cho công lý: “Chúng ta đã cùng sống với nhau, cùng làm việc với nhau. Còn hơn thế nữa, chúng ta đã cùng vui mừng và hi vọng với nhau, cùng lo âu và buồn khổ với nhau. Đặc biệt là trong những giờ phút nguy hiểm, khi tính mạng bị đe dọa, chúng ta đã sẵn sàng cùng chết với nhau. Còn gì có thể chia cách chúng ta được nữa?”.
Ngài ca ngợi giáo dân đã nỗ lực xây dựng xã hội và Giáo Hội bằng sự tích cực và kiên cường của mình: “Anh chị em còn góp phần xây dựng xã hội khi can đảm lên tiếng bênh vực công lý, sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ sự thật. Anh chị em là Giáo Hội. Anh chị em đã đổ mồ hôi nước mắt và cả máu đào để gìn giữ và phát triển Giáo Hội. Tôi tự hào về anh chị em. Tôi cảm phục anh chị em. Tôi tri ân anh chị em”.
Những lời này phát ra từ tâm can của TGM Ngô Quang Kiệt. Chúng có tác dụng hâm nóng ngọn lửa trong lòng giáo dân. Chúng là “một trời tâm sự” của một người bị bắt buộc rời bỏ sứ mệnh đang theo đuổi khi chưa đạt mục đích.
Khi mục tử và đoàn chiên thương yêu và tin cậy nhau như thế, không gì có thể chia rẽ họ. Chỉ có lang sói vì muốn phá vỡ đoàn chiên mới nhắm mục tử để tấn công. Vì vậy những mục tử khác khi được cử đến tiếp tục chăm sóc đoàn chiên phải biết noi gương người trước để làm tròn trách nhiệm của mình. Lời ĐC Kiệt nói ĐC Nhơn sẽ cùng sống cùng chết với anh em là một lời ước nhưng cũng là một lời khuyên.
Nguyễn Văn Nhơn không phải là Ngô Quang Kiệt. Nhưng nếu mục tử Nguyễn Văn Nhơn cũng sẽ là một mục tử nhân hậu và can trường như mục tử Ngô Quang Kiệt thì sẽ chinh phục giáo dân dễ dàng, sẽ là một quà tặng từ Trời cho giáo dân Hà Nội và cho cả Giáo Hội Việt Nam. Điều hy vọng này cũng xin được đặt nơi tân Giám Mục Nguyễn Thái Hợp của giáo phận Vinh.
Các vị không phải chỉ là chủ chăn của giáo dân tại một địa phương. Các vị đứng trong hàng ngũ chọn lọc của những người lãnh đạo tinh thần, là biểu tượng của công chính, can đảm và nhân từ, có bổn phận dẫn giắt nhân dân cả nước đi tìm công lý, sự thật và phẩm giá con người, trong đó có quyền được tin, được bầy tỏ và thực hành đức tin, không phải qụy lụy xin phép những thế lực chống phá đức tin.