Giọt Máu Ngư Dân và Nỗi Sợ Thái Thú
Giáo Già
Tin được đăng trên Người Việt online ngày 9-6-2009 cho biết: “Nhà cầm quyền Bắc Kinh ra lệnh cấm đánh cá trên một vùng biển Đông rộng lớn 128,000 cây số vuông từ 16 tháng 5 đến 1 tháng 8 năm 2009 ngay cả các khu vực mà Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền không thể tranh cãi. Nhà cầm Hà Nội vừa lên tiếng phản đối thì ngày 6-6-09, Bắc Kinh loan báo cho tàu Ngư Chính 44183, tàu tuần tiễu kiểm soát đánh cá lớn nhất của họ và rồi đưa thêm 7 chiếc Ngư Chính khác, nhỏ hơn, đến tuần tiễu, thi hành lệnh cấm”.
Tàu Ngư Chính 44183, tàu tuần được cải biến thành tàu tuần tra đánh cá viễn dương lớn nhất của Trung quốc được đưa tới biển Đông, gồm cả các khu vực biển thuộc chủ quyền Việt Nam, thi hành lệnh cấm đánh cá vào mùa đánh cá quan trọng nhứt của ngư dân Việt Nam.
Điều nên biết là một phần lớn khu vực bị Trung Quốc cấm lại là khu vực thềm lục địa mở rộng của Việt Nam cùng với diện tích biển bao quanh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Từ đó, tin được đăng trên Website Việt Nam Đi Tới ngày 6-6-2009 cho biết: “Bản tin ngắn của báo Trung Quốc có tiêu đề ‘Tàu tuần tiễu Ngư Chính của thành phố Chu Hải tuần tiễu Hoàng Sa, đuổi một tàu cá đánh bắt cá phi pháp’ được nhà báo Trang Hạ dịch và phổ biến trên mạng www.leminhphieu.com kể rằng ‘Ngày 19-5-2009, tàu Ngư Chính số 44183 thuộc đội tàu cá Ngư Chính của Chu Hải lần đầu tiên tham gia tuần tiễu biển quần đảo Hoàng Sa đã phát hiện một tàu cá của nước láng giềng đang đánh bắt cá phi pháp tại vùng biển nước ta. Tàu Ngư Chính Trung Quốc 44831 và 44061 lập tức bao vây, áp mạn và tức tốc tiến hành kiểm tra. Dưới sự chỉ đạo của nhân viên chỉ huy tuần tiễu biển, các nhân viên có chức năng của ta đã cảnh cáo chiếc thuyền này, áp tải nó rời khu vực phạm vi biển nước ta’. Bản tin không nêu tên tàu nào của Việt Nam đã bị đánh đuổi, nhưng nhìn vào tấm hình thì thấy rõ đó là tàu đánh cá mang số hiệu đăng ký ở tỉnh Quảng Ngãi QNg-94734 TS. Bên dưới bản tin là một số lời bình luận của độc giả Trung Quốc nặng tính thù nghịch, như:
- Những tàu cá Việt Nam vi phạm thì nên bắn chìm!
- Bắt lấy đánh cho một trận rồi vứt xuống biển.
- Dân Trung Quốc thấy việc xử lý ôn hoà này rất khó chịu.
- Tại sao không nói rõ là tàu nước nào?
- Chắc chắn là bọn chó Việt Nam rồi.
- Đáng lẽ phải thu ngư cụ rồi phạt nặng mới phải”.
Về phần CSVN, báo Thanh Niên, ngày 6 tháng 6 năm 2009, có bài viết mang tựa đề “Ngư dân bị chặn đường ra khơi: Đói trong mùa cá” cho biết chủ chiếc tàu cá QNg 94734 TS tên Phạm Tĩnh (58 tuổi, ở thôn Phần Thất, xã Phổ Quang), chủ phương tiện và cũng là thuyền trưởng tàu QNg ố 94734 TS chuyên hành nghề lưới rút, vẫn chưa hoàn hồn sau vụ tàu bị tấn công trên biển, dù vụ việc đã trôi qua hơn 1 tháng. Theo lời ông kể, bài báo viết:
“Hôm đó vào khoảng 10 giờ ngày 26 tháng 4, tàu của ông đang trên đường tìm kiếm ngư trường thì thấy có tàu nhấp nhô từ khá xa. Biết chuyện chẳng lành, ông Tĩnh cho tàu quay ngược trở lại và chạy hết tốc lực, nhưng chỉ được chừng hơn 20 phút thì 2 tàu sơn màu trắng không rõ quốc tịch (số hiệu 44061, 44831) đến gần và nổ súng, buộc tàu phải dừng lại. Liền sau đó, 2 chiếc ca nô xuất phát từ các tàu trên chở theo khoảng 10 người, tay lăm lăm súng ‘đổ bộ’ lên tàu cá QNg - 94734 TS, nói toàn tiếng Trung Quốc và ra hiệu tất cả thuyền viên dồn về phía mũi tàu, tay giơ lên khỏi đầu. Họ lục lọi khắp tàu, giở hầm thấy cá ngừ, cá thu liền bắt các thuyền viên chuyển cá qua ca nô để chở về tàu ‘trắng’. Hơn 1 giờ, toàn bộ số cá khoảng trên 3 tấn mà tàu ông Tĩnh sau 6 ngày cật lực khai thác đều bị cướp sạch. Trước khi bỏ đi, những người nói tiếng Trung Quốc còn ‘đe doạ’ bằng cách lấy lưỡi lê súng AK đâm lủng 1 thúng chai...” Bài báo cũng ghi nhận một số trường hợp điển hình khác và cho biết thêm: “Từ khi có lệnh tạm cấm ngư trường của Trung Quốc đưa ra, nhiều ngư dân chuyên đánh bắt cá ngừ đại dương ở phường 6 và câu mực ở phường Phú Đông (TP Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên) mất hẳn kế sinh nhai. Nhiều người vì lo sợ tính mạng bản thân, tài sản của gia đình, đã kêu bán tàu, thuyền, làm những nghề tay trái với thu nhập thấp, khiến đời sống ngư dân càng thêm khó khăn...”
Bên cạnh đó, báo điện tử Vietnamnet ngày 2-6-09 cho biết ông Nguyễn Văn Hòa, chủ tàu kiêm thuyền trưởng tàu ĐNa-66456, phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, Đà Nẵng, than rằng:
“Thực ra tàu cá Việt Nam đã bị tàu nước ngoài đuổi ngay trên vùng biển Việt Nam từ nhiều năm nay. Nhiều tàu cá bị đâm chìm, bị bắt phạt hành chính. 'Nhưng chúng tôi có tiền đâu mà nộp phạt. Chúng tôi ngậm đắng nuốt cay chấp nhận, bởi nếu không thì bị dẫn độ về nước họ thì tốn kém nhiều hơn. Thường khi bị bắt, họ chỉ cho 1 tàu còn dầu để chúng tôi kèm dắt nhau vào bờ... Ngay chính vụ cá mà nhiều tàu chúng tôi buộc phải nằm bờ thế này thì chết mất... Thiệt hại từ việc nằm bờ không chỉ thiếu hụt sản lượng, mà còn tiền vay sắm đồ, trả tiền ăn để giữ bạn tàu, chờ đến ngày ra khơi...”
Đến ngày 5-6-09, Vietnamnet dựa theo báo cáo từ Sở Ngoại Vụ thành phố Quảng Ngãi nói rằng chỉ riêng tỉnh này “tính từ 2005 đến quý I/2009, tổng số tàu thuyền và ngư dân Quảng Ngãi bị nước ngoài bắt là 74 chiếc, 714 ngư dân, trong đó 33 chiếc với 373 ngư dân là bị Trung Quốc bắt.” Nguồn tin này cho biết thêm “Khi bị Trung Quốc bắt, người thân ngư dân phải nộp tiền chuộc từ 5-7 vạn nhân dân tệ (150-180 triệu đồng) mới đưa được ngư dân về nhà. Ngoài bị bắt ra, Quảng Ngãi cũng có 6 ngư dân bị nước ngoài bắn chết và bị thương (năm 2007).”
Vậy mà phải đợi đến Chúa Nhựt, 7-6-2009, trả lời câu hỏi của phóng viên về chuyện Bộ Ngoại giao Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc hãy kiềm chế đừng có những hành động ngăn cản chuyện đánh cá bình thường của ngư phủ Việt Nam, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao CSVN Lê Dũng mới nói:
“Hôm 4-6-2009, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao VN ông Hồ Xuân Sơn đã có một buổi trao đổi với Đại sứ Trung Quốc ở VN ông Tôn Quốc Tường, ông Sơn trình bày rằng gần đây phía Trung Quốc đã ra lệnh cấm đánh cá trong một vài khu vực ở vùng Biển Đông bao gồm những khu vực thuộc chủ quyền của VN và phía Trung Quốc cũng đã gia tăng tàu tuần duyên, bắt giữ và phạt nhiều hơn trong khu vực này. Quan điểm của Thứ trưởng Ngoại giao CHXHCNVN Hồ Xuân Sơn là những hành động như thế của Trung Quốc đã ảnh hưởng đến hoạt động đánh cá bình thường của ngư phủ VN trong những khu vực xưa nay vốn thuộc về VN”.
Lê Dũng cũng cho biết Đại sứ Trung Quốc đã hứa sẽ báo cáo về nước đề nghị nêu trên của phía VN.
Điều này gây nên sự bất mãn trong quần chúng Việt Nam vì nó bộc lộ cái hèn của Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn và cái nhục của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Lẽ ra Hồ Xuân Sơn phải đòi Đại sứ Tôn Quốc Tường đến Bộ Ngoại Giao để nghe lời phản đối hành động ngang ngược của nhà cầm quyền Bắc Kinh và tàu Trung Quốc mang số hiệu 44061, 44831...; hoặc Đại sứ CSVN tại Bắc Kinh đích thân đến Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đòi nhà cầm quyền Bắc Kinh phải có hành động thích nghi.
Chưa hết, Hà Nội vừa lên tiếng phản đối ngày 4-6-2009 thì 2 ngày sau, 6-6-2009, Bắc Kinh loan báo cho tàu Ngư Chính 44183 và 7 chiếc Ngư Chính khác đến nơi thi hành lịnh cấm. Sau đó, ngày 9-6-2009, Tân Hoa Xã thuật theo tin từ tờ Global Times của Cộng sản Trung Quốc thì Tần Cương, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, nói Trung Quốc có chủ quyền “không thể tranh cãi” đối với các đảo ở biển Nam hải (Việt Nam gọi là biển Đông), bao gồm các quần đảo Tây Sa và Nam Sa (Việt Nam gọi là Hoàng Sa và Trường Sa) và các vùng biển phụ cận. Bản tin thuật lời Tần Cương nói việc cấm đánh cá vào mùa hè là “các biện pháp hành chính thường lệ và hợp lý của Trung Quốc ở biển Nam Hải nhằm bảo vệ sự bền vững của thuỷ sản trong khu vực”.
Ngoài ra, Ông Zhuang Guotu, Khoa trưởng phân khoa Nghiên cứu Đông Nam Á châu của trường Đại học Xiamen nói với báo Global Times rằng Trung Quốc đang bày tỏ một thái độ cứng rắn nhằm bảo vệ chủ quyền của mình trong vùng biển Nam Hải. Do đó, người ta chưa biết Bắc Kinh có chính thức trả lời yêu cầu của Hồ Xuân Sơn hay chỉ cho Tần Cương bắn tiếng như vậy là đủ rồi.
Nhìn vào diễn tiến nội vụ không ai ngờ Cộng sản Việt Nam có thể hèn đến độ đó và chịu nhục đến độ đó; nhứt là khi bản tin BBC loan đi ngày 9-6-2009 có đề cặp tới việc “báo The New York Times của Mỹ hồi đầu tháng này có nhắc tới chuyện Việt Nam đã bỏ ra hơn hai tỷ đô la để mua sáu tàu ngầm và 12 máy bay chiến đấu SU-30 của Nga Sô và nhiều ngư dân than phiền với truyền thông trong nước và nước ngoài rằng họ mất miếng cơm manh áo khi Trung Quốc cấm đánh cá vào đúng mùa cá”.
Trước đó, cũng qua đài BBC, một đại diện của ngư dân đã than thở và trách móc: “Thời gian Trung Quốc cấm trùng với mùa cá chính của ngư dân VN. Ra lệnh cấm như vậy chẳng khác gì yêu cầu ngư dân kéo thuyền lên bờ nghỉ, chờ đến mùa mưa bão ra khơi” (BBC 2.6).
Cũng chưa hết, giữa khi hàng chục ngàn ngư dân các tỉnh ven biển miền Trung bị khốn khổ vì chính sách ngang ngược và tàn bạo của Bắc kinh thì ngày 26 tháng 5, Nông Đức Mạnh, người đứng đầu CSVN, đã thân mật tiếp đón Dương Khiết Trì, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc đang thăm Việt Nam và dự Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Á- Âu lần thứ 9. Sau đó, ngày 05-06-2009, báo Nhân Dân còn bình thản đưa tin đoàn văn nghệ Quảng Đông (gồm các diễn viên cấp quốc gia Trung Quốc) sẽ trình diễn tại Nhà hát Quân Đội Việt Nam và tại hai nhà hát trang trọng nhất của Hà Nội và Sài Gòn. Đồng thời, trên báo Tuổi Trẻ lại có thêm tin:
“Ngày 6-6, tại bãi biển Lăng Cô, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã tổ chức lễ công bố và đón nhận danh hiệu Lăng Cô - vịnh đẹp nhất thế giới với sự tham dự của hàng nghìn người dân địa phương và du khách”...
Tất cả như muốn xóa mất dấu vế thảm họa ngư dân đang gánh chịu trên biển Đông và cũng để mọi người cũng quên mất luôn Đại họa Bắc thuộc đang đè nặng dân tộc và đất nước Việt Nam.
Nhưng, không phải vì vậy mà không có những câu hỏi được đặt ra là tại sao Nhà nước không dám lên tiếng binh vực dân khi dân bị ăn hiếp, bị cấm hành nghề, bị ăn cướp, bị sát hại... ngay trên lãnh hải của mình. Càng hỏi càng thêm đau lòng, vì những câu hỏi đặt ra không cần có câu trả lời khi đám lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đang cầm quyền ở Việt Nam hiện tại không phải là chánh phủ của dân tộc và đất nước Việt Nam. Bởi đất nước Việt Nam đã bị Tàu đô hộ từ năm 1950, khi Hồ Chí Minh sang Tàu cầu viện Mao Trạch Đông để được làm tên tay sai nhuộm đỏ cả nước bằng súng đạn của Tàu và các nước Xã hội Chủ nghĩa. Từ lâu, đặc biệt là sau khi Thái Thú Lê Duẫn bị Đặng Tiểu Bình dạy cho bài học đầm đìa máu hận năm 1979, bọn chúng đã bị biến thành những Thái Thú được Tàu cho tiếp quyền cai trị Việt Nam; và Việt Nam dưới quyền cai trị của chúng đang bị chúng coi như lãnh địa chờ sáp nhập vào Trung Quốc, mà tài liệu được chép lại từ băng ghi âm cuộc gặp mặt giữa đại diện Tổng cục tình báo Hoa Nam và Tổng cục II Việt Nam để lưu trữ, được bảo quản theo chế độ “Tuyệt mật”, nói về “Việt Nam: Tỉnh Hay Khu Tự Trị?” của Trung Quốc là một điển hình điếm nhục, cho dầu độ xác tín của nó còn là một dấu hỏi lớn cũng xin ghi lại vài trích đoạn đáng lưu ý dưới đây:
“...Với tư cách chính uỷ được cử ra chủ trì hội nghị, tôi xin tóm tắt vài điều quan thiết... Với bọn phản động chuyên gây rối ấy à, cứ thẳng tay trấn áp, bịt cái miệng chó của chúng lại (vỗ tay)... Phải quét cho bằng sạch, tiêu diệt không thương xót bọn dân chủ, không cho chúng được đàng chân lân đàng đầu, vùi chúng xuống đất đen, không cho chúng ngóc đầu dậy (nhiều tiếng hô: Sùng chính uỷ nói rất đúng!)... Hợp nhất Trung Quốc - Việt Nam là một mốc lịch sử vĩ đại trên con đường phát triển của Tổ quốc... Trong tình hình thế giới hiện nay, Việt Nam không còn chọn lựa nào khác, không còn con đường nào khác hơn là trở về với Tổ quốc Trung Hoa vĩ đại... Chỉ trở về với Tổ quốc các đồng chí mới có thể tiếp tục tồn tại như những ông chủ duy nhất trước hiểm hoạ bọn giòi bọ đang tích cực phản công nhằm tống cổ các đồng chí khỏi chỗ ngồi của mình. Hãy thử tưởng tượng một ngày nào đó các đồng chí không còn được ngồi ở bàn giấy trong công thự mà phải đi lang thang ngoài đường kiếm việc làm. Thật khủng khiếp!... Nếu ở Trung Quốc đã có một Thiên An Môn thì tại sao Việt Nam không thể có một cái tương tự? Tôi xin bảo đảm với các đồng chí rằng Trung Quốc sẽ tận tình chi viện cho các đồng chí một khi có sự biến đe doạ quyền lợi của các đồng chí. Để bảo vệ các đồng chí, Trung Quốc không thiếu xe tăng dĩ chí cho vài Thiên An Môn (vỗ tay). Các đồng chí cứ hỏi Nông đồng chí xem Hồ đồng chí (Hồ Cẩm Đào) đã hứa hẹn gì trong cuộc gặp gỡ cấp cao vừa rồi...
Việc Việt Nam trở về với Tổ quốc Trung Hoa vĩ đại là việc trước sau sẽ phải đến, không sớm thì muộn. Mà sớm thì hơn muộn (vỗ tay, nhiều tiếng hô: Sùng chính uỷ nói rất đúng!”). Trong lịch sử, Việt Nam từng là quận huyện của Trung Quốc, là một nhánh của cây đại thụ Trung Hoa. “Trung Quốc và Việt Nam là một”... Nông đồng chí (Nông Đức Mạnh), từng tự hào nhận mình là người Choang trong cuộc gặp gỡ với các đại biểu trong Quốc vụ viện. Mà dân tộc Choang là gì? Là một bộ phận của đại gia đình các dân tộc Trung Quốc... sự sáp nhập trở lại của Việt Nam, và toàn bán đảo Đông Dương tiếp theo là điều tất yếu (vỗ tay ran)... Ngày nay Trung Quốc vĩ đại đang giành lại vị trí phải có của mình. Có Việt Nam nhập vào, Trung Quốc đã vĩ đại càng thêm vĩ đại (vỗ tay, tiếng nhiều người “Rất đúng!”)...
Những việc mà giờ đây chúng ta phải làm... là: Đè bẹp và tiêu diệt luận điệu “tinh thần dân tộc” vẫn còn tồn tại dai dẳng trong bọn kiên trì lập trường độc lập dân tộc, đặc biệt trong đám trí thức và vài phần tử công thần chủ nghĩa trong tướng lĩnh. Cần phải tiêu diệt cả về tinh thần, cả về vật chất... Tướng lĩnh phần nhiều là người của ta, do ta đào tạo, cất nhắc, công này là của nguyên chủ tịch Lê (Đức Anh), người rất biết nhìn xa trông rộng (vỗ tay)... Mấy anh già sắp chết hay nói ngang thì phải đe nẹt, cho chúng biết rằng một khi đã bị coi là chống đảng thì chúng sẽ bị tước hết mọi tiêu chuẩn cao đang được hưởng, tất chúng sẽ im mồm... Mao chủ tịch đã dạy: trí thức khởi xướng được nhưng không làm được, chúng chỉ lép bép lỗ miệng, thấy súng lên đạn là chúng rùng rùng bỏ chạy... Hãy lên đạn, hãy hô “bắn” thật to, đâu sẽ vào đấy hết (cười ran)... Công an sẽ được cung cấp mọi trang bị hiện đại nhất để đè bẹp mọi mưu toan đối kháng...
Truyền thông phải sử dụng mọi phương tiện sẵn có, tăng cường viết và nói hàng ngày hàng giờ, biện luận cho dân thấy được cái lợi của việc sáp nhập: họ sẽ được hưởng mọi phúc lợi của người dân Trung Quốc, hơn hẳn phúc lợi đang có, sẽ không còn chuyện lủng củng vướng mắc về biên giới, ngư dân được tha hồ đánh cá trên biển Đông nay cũng là của họ mà không còn phải lo lắng vì xâm phạm hải phận bị hải quân Trung Quốc trừng phạt, người dân khi xuất ngoại sẽ được cầm hộ chiếu của một nước lớn mà thế giới phải kiêng nể (vỗ tay ran)... Với mọi sự cố xảy ra trên biển như vừa rồi cứ tiếp tục ám chỉ một “nước ngoài” nào đó, hoặc một “tàu lạ” nào đó, không rõ quốc tịch v.v... là được... Hiện nay đang nổi lên sự phản đối Trung Quốc khai thác bô-xít ở miền Trung. Ồn ào lắm. Có vẻ hung hăng lắm. Nhưng là bề ngoài thôi, chứ bề trong thì bọn phản đối cũng biết thừa mọi sự đã an bài, tiền đã trao thì cháo phải được múc, Bộ Chính trị quyết không bỏ kế hoạch này.
Nhất là Nông (Đức Mạnh) đồng chí, là chuyện sinh tử của Nông đồng chí, nên đồng chí rất kiên quyết... Phải phản công bằng lập luận: một khi Việt Nam đã nhập vào Trung Quốc thì vùng Tây Nguyên của Việt Nam là của chung nước ta, chưa chừng trên sẽ thay đổi kế hoạch, ta không khai thác ở đấy nữa, mà chuyển sang thực hiện ở châu Phi, bô-xít của ta, ta để đấy dùng sau, cũng như ta đâu có vội khai thác cả tỉ tấn bô-xít ở Quảng Tây... Nói để các đồng chí phấn khởi: về thực chất, qua con đường ngoại thương, đầu tư, ta nắm châu Phi trong tay từ nhiều năm rồi. Ta đã mua hết các chính quyền ở đấy. Cái đó gọi là quyền lực mềm. Trung Quốc đến sau phương Tây và Hoa Kỳ, vậy mà chỉ trong vòng một thập niên ta đã quét sạch chúng khỏi đấy.
Ta còn chuyển dân mình sang châu Phi làm thành những vùng đất Trung Quốc trên lục địa Đen nữa kia (vỗ tay). Người Trung Quốc bây giờ có quyền nói: “Mặt trời không bao giờ lặn trên đất đai của Tổ quốc” (vỗ tay ran)... Phải trấn an các cán bộ các cấp từ trung ương cho đến địa phương để họ thấy rằng sau hợp nhất mọi vị trí, quyền lợi, bổng lộc của họ không bị suy suyển... mô hình quản trị Việt Nam trong tổ quốc thống nhất: Tỉnh hay là Khu Tự Trị? Chuyện này xin các đồng chí về nghĩ thêm, bàn thêm... bọn chó Đạt Lai Lạt Ma cũng đang xin tự trị đấy, mà Trung ương không thuận... vùng nào cũng chỉ là một bộ phận lãnh thổ của Tổ quốc ”...
Chưa biết độ xác tín của tài liệu đến mức độ nào, có thể là phịa; và cho dầu phịa với mục đích nào, chỉ với vài trích đoạn, vấn đề coi như đã an bày [hay cái phịa muốn an bày?]. Phải chăng vì vậy mà trong bài viết mang tên “Dự án Bauxite Tây Nguyên: cái nhìn của một người Việt Nam ở nước ngoài” (trên Talawas-03/06/09 và nhiều Trang Mạng khác) người được gọi là Giáo sư Lê Xuân Khoa chẳng những không tiếc lời ca tụng Võ Văn Kiệt [người có thời lãnh đạo Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, kẻ tham nhũng hàng đầu trong hệ thống công quyền CSVN, kẻ góp phần không nhỏ trong việc đẩy vô số dân oan vào cuộc sống trầm luân khốn đốn cho bọn tài phiệt hình thành giai cấp quý tộc đỏ, gian thương đỏ, tư bản đỏ... nhờ lấy đất của dân đem bán cho các dự án đầu tư lớn của các doanh nhơn ngoại quốc, nhờ từng cơn khủng hoảng địa ốc, nhờ những đồng đô la của ‘khúc ruột ngàn dặm xa’ rót về quê nhà cứu đói người thân, lẫn đích thân mang về đú đởn hoang dâm trên từng cơn đau của đồng bào ruột thịt... đến cuối đời mới nhận mình sai trong dự án Dung Quất, đến cuối đời mới bộc lộ chút phản tỉnh, chưa kịp cất lời xin lỗi đã bị bọn Thái Thú đương quyền thanh toán bằng độc dược, chỉ kịp viết lên tay mấy chữ trước khi bị đưa đi Singapore bạch hóa cái chết trấn an dư luận], ông Khoa lại còn cất tiếng nói “Việt Nam không ghét nhưng sợ Trung Quốc” [trả lời câu hỏi của ông Wu].
Trời ơi! Ông nói Việt Nam là dân tộc Việt Nam hay ông nói cá nhơn ông vậy ông Khoa? Xin đừng lên tiếng nói thay 86 triệu dân Việt Nam ở quốc nội đang là nạn nhơn trực tiếp của kẻ thù Trung Quốc. Cũng xin đừng nói thay 3 triệu người Quốc gia Việt Nam hải ngoại, trong đó có tôi.
Nếu là cá nhơn, ông Khoa không ghét Trung Quốc! Vậy ông thương kẻ thù Trung Quốc hả ông Khoa! Ông có thật sợ Trung Quốc không hả ông Khoa? Sợ Trung Quốc mà ông có xài đồ Trung Quốc không? Trong gia đình ông có vật dụng nào mang nhãn hiệu Trung Quốc không? Nhưng sợ rồi làm gì cho hết sợ? Tôi đã có lần rớt nước mắt vì hành động về hùa với chủ trương “cưỡng bức tỵ nạn Việt hồi hương” để hưởng “phân” của ông. Bây giờ, tôi thêm một lần nữa rớt nước mắt vì câu nói “Việt Nam không ghét nhưng sợ Trung Quốc” của ông. Lạy Trời cho tôi đừng nghe thêm câu nói nào khác khiến tôi phải rớt nước mắt nữa!
Xin nói lại Việt Nam ghét Trung Quốc. Chỉ có đám Thái Thú mới sợ bị Trung Quốc bỏ rơi. Còn dân Việt nếu có sợ Trung Quốc là sợ để tìm cách đối phó, để đánh đuổi Trung Quốc, để thoát nạn Bắc thuộc, như mấy lần Bắc thuộc trong quá khứ, chớ không phải đầu hàng theo kiểu ném đá chôn trụ đồng của Mã Viện thời trước.