MỘT TRĂM NGÀY SAU KHI TT OBAMA ĐẢM NHẬN TRÁCH NHIỆM
NỀN KINH TẾ HOA KỲ HIỆN TRONG TÌNH TRẠNG NÀO?
Hoàng Đức Nhã
* TT OBAMA CẦN LÃNH ĐẠO ĐỂ ĐƯA HOA KỲ VÀ THẾ GIỚI RA KHỎI SUY THOÁI
Một trăm ngày sau khi TT Obama đảm nhận trách nhiệm lèo lái con thuyền quốc gia ra khỏi tình trạng suy thoái, tình trạng kinh tế tài chánh tại Hoa Kỳ cũng như trên thế giới chưa được khả quan và viễn ảnh phục hồi vẫn còn u ám.
Trong hai tuần qua có một số dấu hiệu cho thấy sự xói mòn năng lực kinh tế Mỹ có phần chậm lại. Chánh quyền lập tức thêu dệt và nắn bóp sự kiện này thành đó là dấu hiệu sự xuống dóc đã ngưng và tình trạng bắt đầu ổn định. Đồng thời, chánh quyền cũng tuyên bố rằng các ngân hàng đã tránh rớt xuống vực thẳm – điều mà ai nấy cũng lo sợ mấy tháng nay - và số người mất việc cũng đã giảm bớt.
Vào cuối tháng Tư TT Obama tuyên bố rằng đã có những “tia hy vọng” tình trạng kinh tế tài chánh sẽ khả quan. Những chỉ số nêu trên là đề tài cho TT Obama tuyên bố ngày Tám tháng Năm vừa qua rằng “những bộ phận của guồng máy kinh tế có phần từ từ chuyển động trở lại”.
Phải chăng đây là một câu nói “rào trước đón sau” của một chính trị gia nhằm tạo hy vọng trong bối cảnh còn bi đát hiện nay hay là một lời phát biểu của một người lãnh đạo tin rằng những chương trình thay đổi của mình bắt đầu có kết quả?
Quan trọng hơn nữa, liệu những động lực có ảnh hưởng mạnh đối với kinh tế Mỹ sẽ giúp guồng máy kinh tế quốc gia lăn bánh một cách nhanh chóng trên đà phát triển, và từ đó khích động các guồng máy kinh tế khác trên thế giới chăng?
Tạo lại niềm tin
Đối với một vị lãnh đạo quốc gia công thức để tạo lại niềm tin của quốc gia có ba thừa số: một phần chánh sách tốt, một phần công việc chánh trị tốt và một phần may mắn. Lịch sử cận đại của Hoa Kỳ cho thấy có bốn vị Tổng thống thất bại trong việc tạo lại niềm tin của quốc gia: TT Herbert Hoover trong cuộc khủng hoảng thị trường chứng khoán cuối tháng Mười năm 1929, TT Lyndon Johnson sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân của Cộng Sản Bắc Biệt, TT Jimmy Carter trong giai đoạn cuối của cuộc khủng hoảng năng lực, một tháng sau khi ông ta nhậm chức năm 1977, và TT Bush “Con” khi ông ta tuyên bố hai tháng sau khi Hoa Kỳ xâm chiếm Iraq vào đầu năm 2003.
TT Obama không những phải tạo lại niềm tin của người dân mà còn phải tạo niềm tin và lạc quan trong thời điểm HK trải qua khủng hoảng. Chắc TT Obama cũng nhớ bài học của các vị tiền nhiệm nêu trên và sẽ không tạo niềm hy vọng vô căn cứ. Mặc dù ông ta cũng còn dè dặt khi tuyên bố rằng phải đợi vài tháng nữa mới biết được kinh tế đã trở chiều ông ta cần cẩn thận hơn vì thực trạng kinh tế vẫn còn bi đát.
Thực trạng vẫn còn bi đát
Thống kê vừa được Bộ Lao Động Hoa Kỳ công bố những ngày qua cho thấy tỷ lệ dân Mỹ mất việc trong tháng Tư năm 2009 gia tăng đến mức 8.9%, một tỷ lệ cao nhất trong một phần tư thế kỷ nay. 539,000 người đã mất việc trong tháng Tư so với 699,000 người trong tháng Ba.
Tuy nhiên, chánh quyền Obama cũng biết rằng sự giảm bớt này là nhờ việc Chánh phủ tạo thêm công việc và một số người có công việc tạm thời, và sau khi những công việc tạm thời này chấm dứt thì số người này lại thất nghiệp trở lại.
Kinh tế Hoa Kỳ chịu ảnh hưởng của ba động lực: lãnh vực xây cất và bán nhà; lãnh vực bán lẻ; lãnh vực thị trường tài chánh.
Lãnh vực xây và bán nhà vẫn còn khó khăn và sự phục hồi sẽ còn lâu. Dù số nhà bán được đã có phần gia tăng trong hai tháng đầu năm, nhờ những người thừa cơ hội mua nhà với giá rè, nhất là tại tiểu bang California, nhưng phân nữa những nhà này là do ngân hàng tịch thu và bán lại. Quan trọng hơn nữa, giá trung bình của nhà bán rồi giảm thiểu 30% so với năm 2005 khi giá nhà cao nhất, và sự giảm bớt này đã kéo dài 30 tháng nay. Nhiều chuyên gia nghĩ rẳng lãnh vực này sẽ hồi phục sớm nhất là vào giữa năm 2010 và với điều kiện dân chúng có việc làm và tín dụng dễ dãi hơn.
Lãnh vực bán lẻ tương đối khá hơn lãnh vực xây và bán nhà. Những tiệm với giá bình dân như Wal-Mart, JC Penney, thấy giới tiêu thụ bắt đầu mua sắm trở lại tuy vẫn còn thấp so với thời gian trước khi sự suy thoái kinh tế bắt đầu vào tháng 12 năm 2007. Tuy nhiên, nhưng tiệm sang trọng như Neiman Marcus, Saks, vẫn còn chịu đựng mức giảm bớt thương vụ vào khoảng 20%.
Thị trường tài chánh có nhiều tiến bộ nhất: chỉ số tiêu biểu cho sinh hoạt kinh tế - Dow Jones Index – gia tăng cở 30% từ tháng Ba đến nay. Giới tiêu thụ và giới đầu tư bớt lo rằng thị trường tài chánh sẽ sụp đổ hoàn toàn và những biện pháp chánh quyền ban hành để cứu vãn ngân hàng bắt đầu có hiệu lực. Tuy nhiên, giới đầu tư vẫn còn do dự vì họ tin rằng sẽ còn nhiều vấn đề khó khăn trong lãnh vực ngân hàng và nhiều ngân hàng lớn và công ty tài chánh sẽ áp dụng nhiều điều kiện gay go hơn trước khi quyết định đầu tư tại Mỹ cũng như ở hải ngoại.
Tình trạng này khiến giới tiêu thụ dè dặt và sẽ tiết kiệm thay vì chi tiêu ngân khoảng từ những “đặc ân” thuế và an sinh xã hội nhất thời mà Chánh quyền Obama đã cho dân Mỹ.
Tỷ lệ tiết kiệm của dân Mỹ gia tăng dần – hiện nay ở mức 4.2% so với mức rất thấp trước khi sự suy thoái kinh tế bắt đầu. Điều này có nghĩa là người dân sẽ cố tạo lại khả năng tài chánh cá nhân của họ đã bị hao mòn mười tám tháng nay, và sẽ bớt chi tiêu. Như thế, lãnh vực sản xuất và xuất cảng sẽ không phát triển mạnh được và sự kiện này sẽ cản trở kinh tế phát triển.
Ảnh hưởng xã hội
Một khía cạnh của thực trạng bi đát hiện nay là việc một số lớn của giới thường được gọi là baby boomer – những ai sanh vào 1950 – đang trải qua thời kỳ khó khăn. Trong số những người Mỹ thất nghiệp hiện nay có 800,000 người trên 55 tuổi không có việc.
Họ đã từng mong có một hưu trí thoải mái; nhưng bây giờ họ phải tìm việc trở lại vì mãi lực của họ không còn bao nhiêu, giá trị nhà của họ mất gần phân nữa, tiết kiệm của họ qua những chương trình 401K mất phân nữa giá trị từ khi suy thoái kinh tế bắt đầu. Một thống kê mới đây cho thấy trước đây cở 15% của giới baby boomer muốn làm việc cho đến khi họ không còn làm được nữa, và con số đó hiện nay tăng đến 25%.
Chánh quyền rồi đây sẽ phải tạo điều kiện thuận lợi cho những người sẽ về hưu, nhưng vì tình trạng khó khăn sẽ phải trở lại làm việc và cạnh tranh với giới trẻ đang chật vật giữ việc của họ.
Viễn ảnh này đòi hỏi chánh quyền Obama có những chánh sách khích động phát triển thực tế, giảm thiểu thiếu hụt ngân sách hầu tránh nạng lạm phát trong nước. Ngoài nước, Hoa Kỳ cần có những chương trình tạo niềm tin của giới đầu tư và hướng dẫn các quốc gia khác trên đường phát triển trở lại.
Thế giới chờ đợi Hoa Kỳ
Hiện nay nền kinh tế Trung Quốc có đà phát triển tốt nhất trong những quốc gia giàu. Nền kinh tế Âu Châu, kể cả Anh Quốc và Đức Quốc, và Nhật Bản vẫn còn bi đát. Trong khi Hoa Kỳ chỉ thấy được vài tia hy vọng tình hình kinh tế bắt đầu khả quan thì Trung Quốc bắt đầu phát tiển trở lại trong tháng Ba vừa qua. Mức sản xuất kỷ nghệ của Trung Quốc tăng 8.3% so với mức 2.8% trong thời điểm tháng Hai/tháng Ba vừa qua.
Tuy nhiên, việc Trung Quốc đã phục hồi nền kinh tế là một điều kiện cần thiết nhưng chưa đủ để giúp thế giới phát triển trở lại. Hoa Kỳ cần phát triển để giúp Âu Châu và Nhật Bản ngăn chận sự sụp đổ của nền kinh tế của họ, và sau đó giúp các quốc gia khác phát triển.
Những “tia hy vọng”, những “cây non đang lú lên” tại Hoa Kỳ rất có thể sẽ héo queo sau vài tháng, khi chánh quyền Obama ban hành những chánh sách mị dân để thực hiện chương trình mà khuynh hướng cực tả của đảng dân Chủ hằng mong muốn.
Những chánh sách này, nhất là dự thảo luật nhằm giới hạn tối đa việc các công ty Mỹ hoãn đống thuế trên lợi tức họ đạt được trong những hoạt động tại hải ngoại, có tác động ngăn chận các công ty tiếp tục đầu tư vào những phát minh và canh tân mới, nhất là trong lãnh vực kỹ thuật và điện toán – hai lãnh vực mà Hoa Kỳ tương đối còn giữ thế bá chủ trên thế giới.
Nếu các công ty này không còn hưởng chế độ hoãn trả thuế lợi tức thì họ sẽ không còn đầu tư một cách mạnh mẽ, và như thế sẽ không có việc cho số ngày càng đông muốn tìm việc. Điều này sẽ kéo dài tình trạng suy thoái hiện nay.
Lãnh đạo hay tiếp tục tranh cử?
TT Obama đã rất khéo léo tạo niềm tin trong đa số cử tri rằng con thuyền quốc gia đi đúng đường. Theo thống kê của New York Times/CBS News được công bố trong tháng Tư vừa qua, tỷ lệ dân chúng Hoa Kỳ tin rằng con thuyền quốc gia đi đúng đường tăng đến 41% so với 15% trước ngày ông Obama nhậm chức, mặc dù hầu hết các chỉ số kinh tế tài chánh nói lên sự suy thoái trầm trọng.
Tuy nhiên, cũng có nhiều người hoài nghi về những chánh sách của TT Obama, từ những sử gia kinh tế đã thấy những bài học trước đây về những phục hồi kinh tế không thành tựu, đến những chuyên gia lập khác luận rắng TT Obama chủ xướng sự phục hồi kinh tế với một giá quá cao cho những thế hệ sau này khi họ sẽ phải chịu ảnh hưởng của sự thiếu hụt ngân sách khổng lồ và vai trò ngày càng rộng lớn của chánh phủ trong sinh hoạt của giới tư doanh.
TT Obama hoạt động với mục đích tăng cường sự ủng hộ của người dân qua những vụ xuất hiện trên truyền hình, báo chí, với những tuyên bố về đủ thứ vấn đề, những mẩu chuyện nhằm mục đích làm khán thính giả xúc động và không để ý rằng ông ta không đưa ra những giải pháp thích hợp và kịp thời để giải quyết những khó khăn hiện nay.
Cách cai trị qua truyền hình, báo chí nhằm tạo sự lạc quan sẽ không tồn tại lâu được. TT Obama cần tạo tín nhiệm của người dân.
Lịch sử Mỹ ghi lại rằng cử tri không tín nhiệm TT Herbert Hoover khi ông ta tuyên bố rằng “Những ngày vui đã trở lại” khi HK lâm vào đại khủng hoảng sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán vào cuối tháng Mười năm 1929.
Câu nói của TT Bush “Con” rằng “Sứ mạng hoàn tất” hai tháng sau khi Hoa Kỳ lật đổ chế độ Saddam Hussein vào tháng Năm 2003 đã thành đề tài châm biếm.
Liêu TT Obama có triển vọng đi vào con đường đó không?