VIỆT NAM: BAUXITE – TIẾNG VỌNG TỪ ĐÁY VỰC - Tại Sao Tầu Muốn Vào Đắk-Nông?

Phạm Trần

“Chủ trương thăm dò, khai thác, chế biến bô-xít là chủ trương nhất quán từ Đại hội IX và Đại hội X của Đảng đến nay. Triển khai các nghị quyết Đại hội, trong hai nhiệm kỳ, Bộ Chính trị đã nhiều lần bàn và ra các nghị quyết, kết luận để lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng ngành công nghiệp bô-xít, alumin, nhôm, phục vụ phát triển kinh tế đất nước nói chung, góp phần phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên nói riêng.”

Đó là lời mở đầu của Kết luận ngày 24-4 (2009) của Bộ Chính trị 15 người của đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đế khai thác Bauxite (Bô-Xít) tại Tây Nguyên, sau hàng lọat phản ứng, từ trong và ngòai Việt Nam, chống đối kế họach khai thác chưa có sự đồng thuận trong xã hội.

Trong số người chống quyết định của CSVN có cả Tướng Võ Nguyên Giáp và hơn 1,000 trí thức, chuyên gia, văn nghệ sỹ và nhà tu hành.

Cũng nên biết trong số 15 người của Bộ Chính trị đảng CSVN đã quyết định khai thác Bauxite và hợp tác với Nhà thầu Chalco của Trung Hoa chỉ có Phạm Gia Khiêm, Bộ trưởng Ngoại giao có bằng Tiến sỹ luyện kim, nhưng cũng không liên quan gì đến quặng Bô-xít (Bauxite).

Số còn lại gồm Nông Đức Mạnh, (Tổng Bí thư) ; Nguyễn Minh Triết (Chủ tịch Nước); Nguyễn Tấn Dũng (Thủ tướng); Trương Tấn Sang (Thường trực Ban Bí thư Trung ương); Nguyễn Văn Chi (Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra TW Đảng);Nguyễn Phú Trọng (Chủ tịch Quốc Hội); Phùng Quang Thanh (Bộ trưởng Quốc Phòng); Lê Hồng Anh (Bộ trưởng Công an); Phạm Quang Nghị (Bí thư Thành ủy Hà Nội); Lê Thanh Hải (Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (Sàigòn); Tô Huy Rứa (Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương); Hồ Đức Việt (Trưởng Ban Tổ chức Trung ương đảng) ; Nguyễn Sinh Hùng (Phó Thủ tướng thường trực chính phủ) ; Trương Vĩnh Trọng (Phó Thủ tướng) đều không có kiến thức gì về quặng, mỏ nên không bảo đảm cho sự hiểu biết tường tận của họ về tác hại sẽ gây ra cho môi trường và các mặt kinh tế-xã hội-văn hóa trong việc khai thác Bô-xít.

Vì vậy ai cũng muốn biết rõ hơn về điều được gọi là “chủ trương nhất qúan” của hai Đại hội đảng IX năm 2001 và X năm 2006 đã nói gì về quyết định khai thác Bô-xít ?

Thứ nhất, vấn đề khai thác Bô-xít chỉ được đề cập đến 2 lần trong hai Văn kiện quan trọng của Khóa đảng VIII được trình bầy tại Đại hội đảng IX ( tháng 04/2001) khi Lê Khả Phiêu giao lại chức Tổng Bí thư đảng cho Nông Đức Mạnh.

Trong “Phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 – 2005” khóa đảng VIII viết : “ Khai thác và chế biến các loại khoáng sản, phát triển công nghiệp khai thác bôxit, luyện alumin và chế biến nhôm theo 1 trong 2 phương án: sản xuất 300 nghìn tấn/năm alumin để điện phân 75 nghìn tấn nhôm sử dụng trong nước; sản xuất 1 triệu tấn alumin cho xuất khẩu, giai đoạn sau nâng lên 3 triệu tấn. Đầu tư khai thác và tuyển quặng đồng, khai thác imenhít, đá quý, vàng, đất hiếm; xây dựng nhà máy luyện kẽm Thái Nguyên, luyện đồng ở Lào Cai.”

Trong tài liệu thứ hai gọi là “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010”, Khóa VIII viết : “ Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quan trọng của cả nước cả về kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh, có lợi thế để phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp sản xuất hàng hoá lớn kết hợp với công nghiệp chế biến, phát triển công nghiệp năng lượng và công nghiệp khai thác khoáng sản. Có chiến lược và quy hoạch xây dựng Tây Nguyên giàu về kinh tế, vững mạnh về quốc phòng, an ninh, tiến tới thành vùng kinh tế động lực.

Phát triển nhanh theo hướng thâm canh là chính đối với các cây công nghiệp gắn với thị trường xuất khẩu (cà phê, cao su, chè, bông...), chăn nuôi đại gia súc, trồng và bảo vệ rừng, cây dược liệu, cây đặc sản và công nghiệp chế biến nông, lâm sản. Phát triển thủy điện lớn và vừa, các hồ chứa nước cho thủy lợi. Khai thác và chế biến quặng bôxít. Phát triển công nghiệp giấy. Nâng cấp, khai thác tốt các tuyến đường trục và đường ngang nối xuống vùng Duyên hải. Phát triển sự hợp tác liên kết kinh tế - thương mại - dịch vụ với các nước láng giềng Lào, Campuchia. Có chính sách thu hút vốn đầu tư, bố trí dân cư và lao động và đất đai theo quy hoạch, nâng cao dân trí và trình độ công nghệ. Thực hiện tốt chính sách dân tộc, thật sự cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của đồng bào dân tộc.”

Thứ nhì, đến kỳ Đại hội đảng X năm 2006 thì chuyện khai thác Bô-xít không còn “ồn ào” như tại Đại hội đảng IX.

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (Nông Đức Mạnh) ngày 10 tháng 4 năm 2006 khi nói về “Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010” chỉ viết vắn tắt : “Việc phát triển các ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng chủ yếu là dựa vào nguồn lực của các thành phần kinh tế, bao gồm cả đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Căn cứ vào nguồn lực và hiệu quả, Nhà nước tập trung đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư để phát triển những sản phẩm quan trọng của nền kinh tế, như: lọc hoá dầu, khai thác quặng và luyện thép, phân bón, hoá chất, xi măng, khai thác bô - xít và sản xuất alumin, bột giấy gắn với trồng rừng, một số sản phẩm cơ khí chế tạo.”

Như vậy trong cả 2 kỳ Đại hội đảng IX và X, không có một Nghị quyết nào nói riêng về kế họach khai thác Bô-xít, cũng như không có tài liệu nào của đảng ghi lại cuộc thảo luận về vấn đề này.

NÔNG ĐỨC MẠNH- BAUXITE-TRUNG HOA


Tuy nhiên chỉ 7 tháng sau khi thay Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh đã sang Tầu “thăm hữu nghị” theo lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Giang Trạch Dân, từ ngày 30 tháng 11 đến ngày 4 tháng 12 năm 2001.

Trong chuyến đi này, một Thông cáo chung phổ biến cho thấy Mạnh đã ký Hiệp định hợp tác kinh tế với Trung Hoa, trong đó có việc hợp tác với Tầu khai thác Bôxít ở Đắc Nông (Đắk Nông).

Một đọan quan trọng trong Hiệp định viết : “ Hai bên xác định trong thế kỷ mới cần tiếp tục tăng cường và mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học-kỹ thuật và các lĩnh vực khác giữa hai nước theo phương châm bình đẳng, cùng có lợi, chú trọng hiệu quả, bổ sung ưu thế cho nhau, hình thức đa dạng, cùng nhau phát triển; tích cực khuyến khích và ủng hộ các doanh nghiệp hai bên khai thác thêm thị trường hàng hóa của hai nước, tăng cường đầu tư và hợp tác, mở rộng quy mô hợp tác kinh tế và kỹ thuật, thực hiện các dự án hợp tác đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội thiết thực.

Nhân dịp này, hai bên đã ký Hiệp định khung giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về việc Trung Quốc cung cấp cho Việt Nam khoản tín dụng ưu đãi và Hiệp định hợp tác kinh tế kỹ thuật giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; và nhất trí sẽ tích cực thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác lâu dài trên dự án bô-xít nhôm Đắc Nông.” (Thông Tấn Xã Việt Nam, TTXVN)

Như vậy, chuyện để cho Tầu nhẩy vào Đắk Nông là do Nông Đức Mạnh ký kết bởi vì trước đó, dưới thời Lê Khả Phiêu (Khoá VIII) và Đổ Mười (Khóa VII), không thấy có văn kiện nào công khai nói đến vấn đề hợp tác khai thác Bô-xít với Trung Hoa.

Mạnh còn đi thăm Trung Hoa lần thứ hai từ ngày 30-5 - 2-6-2008, và cũng như lần trước, Thông cáo chung đã nói đến Đắk Nông : “Hai bên tăng cường hợp tác trong các dự án như: Bôxit Đắc Nông, các dự án trong khuôn khổ “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” và các dự án lớn khác. Hai bên khẳng định tăng cường hợp tác trong các cơ chế kinh tế.” (Đài Tiếng Nói Việt Nam)

Nhưng không riêng gì Mạnh mà cả khi Trần Đức Lương còn là Chủ tịch Nước đi thăm Tầu tháng 7/2005 cũng bị Thủ tướng Tầu là Ôn Gia Bảo thúc bách mau chóng thi hành thỏa hiệp khai thác Bô-xít ở tỉnh Đắk Nông.

Đến khi Hồ Cẩm Đào kết thúc chuyến thăm Việt Nam ngày 17-11-2006 , hai bên cũng lại nhắc đến cam kết hợp tác Đắk Nông trong Thống cáo chung.

Đến phiên Nguyễn Minh Triết đi thăm Tầu từ 15 đến 18-5-2008 thì Hồ Cẩm Đào lại nhắc lại chuyện phải xúc tiến việc khai thác Bô-xít tại Đắk Nông.

Nhưng tại sao lại chỉ thấy Tầu nhắc đến dự án Đắk Nông mà không nói đến Lâm Đồng ?

Vì Đắk Nông (tỉnh Quảng Đức dưới thời Việt Nam Cộng Hòa) nằm gần Ngã Ba Biên giới Việt-Miên-Lào, là vị trí chiến lược Quốc phòng và Chính trị quan trọng nhất của Tây Nguyên.

Có tin cho hay đảng CSVN dự tính mở Xa Lộ nối liền Đắk Nông với Ngã Ba Biên giới để giao thông kinh tế-thương mại giữa 3 nước Việt-Miên-Lào.

Như vậy, nếu Tầu nhảy vào được Tây Nguyên thì giấc mơ “quản lý” Bán đảo Đông Dương có còn xa không ?

Hãy đọc Báo cáo của Thiếu tướng Công an, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lê Văn Cương phổ biến trên một số mạng lưới điện tử tòan cầu: “ Trung Quốc vào Tây Nguyên là họ đã có điều kiện khống chế đối với cả ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Hiện nay Trung Quốc đã thuê một vùng đất rộng lớn ở tỉnh Munbunkiri - sát biên giới tỉnh Dak Nông với thời gian 99 năm, và Trung Quốc đã làm chủ các dự án kinh tế lớn ở tỉnh A-Ta-Pu - tỉnh cực Nam của Lào, giáp với Việt Nam và Campuchia (tại ngã ba Đông Dương). Đây là hậu họa khôn lường đối với an ninh quốc gia. Không rõ những người quyết định cho Trung Quốc vào Tây Nguyên có biết điều này không ?”

Chưa thấy câu hỏi của Thiếu tướng Lê Văn Cương được trả lời, nhưng ai cũng biết sau thời gian có sức ép của Trung Hoa đối với Lãnh đạo đảng CSVN từ 2001 đến 2006, hai bên Việt-Tầu đã xúc tiến mau hơn các thỏa hiệp giữa Tập đòan Khoáng sản Việt Nam (TKV) với Công ty Chalco của Tầu để khai thác Bô-xít tại Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông).

Đáng lẽ những việc làm to lớn này phải được trình cho Quốc hội xem xét, nhưng đảng CSVN vịn cớ số lượng sản xuất chưa tới 1 triệu tấn một năm nên không cần phải trình với Quốc Hội.

Theo dự kiến, mỗi năm sẽ có 600 ngàn tấn Alumina được sản xuất từ Tân Rai (Lâm Đồng) và 600 ngàn tấn (mới tăng từ 300 ngàn) từ Nhân Cơ (Đắk Nông).

Bộ Công Thương của Việt Nam nói : “Theo một số điều tra, đánh giá, vùng đất Tây Nguyên có trữ lượng bauxite khoảng 5,4 tỷ tấn.”

LÙI ĐỂ TIẾN XA HƠN ?


Nhưng cũng vì những hành động độc tài này mà một làn sóng phản đối đã nổi lên từ đầu năm 2009 khiến đảng phải co vòi nhượng bộ bằng Kết luận ngày 24-4 (2009) ra lệnh cho Chính phủ làm ngay một số việc cơ bản:

1) “Rà soát, điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và khu vực Tây Nguyên trong từng thời kỳ; gắn với phát triển kết cấu hạ tầng, bảo đảm an sinh xã hội, phù hợp với nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế để đạt hiệu quả toàn diện.”

2) “Chưa chủ trương bán cổ phần cho tổ chức và cá nhân nước ngoài; sử dụng lao động trong nước, chỉ sử dụng lao động kỹ thuật nước ngoài khi cần thiết, lựa chọn công nghệ hiện đại; thực hiện nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ môi trường. Khẩn trương lập báo cáo môi trường chiến lược và báo cáo đánh giá tác động môi trường của từng dự án để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp.”

3) “Riêng Dự án Nhân Cơ, cần rà soát lại toàn bộ các vấn đề có liên quan, nhất là việc đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường, nếu thực sự có hiệu quả và bảo đảm yêu cầu về bảo vệ môi trường thì mới tiếp tục triển khai thực hiện. Quá trình triển khai hai dự án này cần thực hiện tốt việc hoàn thổ và trồng rừng ngay sau khi khai thác.”

Những chỉ đạo này có tính nguyên tắc và lý thuyết nhằm giải tỏa thắc mắc và áp lực của dư luận, nhưng sau đó vào ngày 29-4 (2009) Nguyễn Tấn Dũng đã phải chỉ thị cho các Bộ liên hệ phải nghiên cứu lại kế họach để trình với Hội nghị Trung ương đảng và Quốc Hội.

Hai việc này trước đây chưa hề được đặt ra, nhưng cũng không nên qúa lạc quan về quyết định của Dũng, bởi vì Trung ương Đảng và Quốc Hội cũng đếu là người của đảng. Hơn nữa, dù phản ứng trong và ngòai nước lên cao chưa từng có đối với một dự án kinh tế, nhưng Quốc hội và Ban Chấp hành Trung ương đảng vẫn ngậm tăm để tiếp tục ăn lương tháng.

Đại biểu Quốc Hội duy nhất của Khóa 12 đã lên tiếng phản đối kế họach khai thác Bô-xít là ông Nguyễn Lân Dũng, Giáo sư, Tiến sỹ. Ông Dũng còn là Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời là Chủ tịch Hội các ngành Sinh học Việt Nam.

Tuy nhiên cùng lúc với nhượng bộ của đảng và nhà nước thì Ban Tuyên giáo Trung ương lại chỉ thị cho một số cán bộ viết bài lên án những người chống đối có ý đồ xuyên tạc.

Bài viết của Hà Văn Thịnh trên báo Lao Động ngày 27/04/2009 là bằng chứng của luận điệu chụp mũ như thế : “Chủ trương khai thác bauxite có từ Đại hội IX, có nghĩa là đã rất lâu và đã được cân nhắc, suy xét kỹ càng. Một số phần tử muốn chống phá công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta, đã mưu toan lợi dụng, tung những tin đồn thất thiệt, gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc hòng "diễn biến hoà bình" để phá vỡ sự ổn định của chúng ta….”

“ …Qua "vấn đề bauxite", phải rút ra những bài học sắc sâu về sự hiểu biết và dư luận. Đa số người dân không hiểu tường tận sự thật của vấn đề nên dễ bị lợi dụng và bị kích động, đưa một chuyện riêng về kinh tế thành "nguy cơ" về chính trị, an ninh. …Trách nhiệm của giới trí thức là rất lớn trong việc đánh giá, xem xét các lợi ích cục bộ và lợi ích tổng thể, kịp thời và chính xác trong việc tham mưu cho Đảng và Nhà nước trước những nhiệm vụ cấp bách, liên quan đến sự nghiệp của dân tộc, tương lai của đất nước. Đảng lắng nghe và thấu hiểu ý kiến trí thức, nhưng không có nghĩa bỏ qua việc một số người lợi dụng điều đó để xuyên tạc, chống phá. “

Như vậy đảng có còn đủ bình tĩnh để nghe những tiếng vỡ của Bô-xít vọng lên từ dưới mắt xích xe ủi của Trung Quốc hay vì đã ngủ mê mà quên luôn cả bổn phận giữ nước ? -/-


Việt Nam, Hàn Quốc và Trung Quốc Ngô Nhân Dụng

Vào thế kỷ thứ 7, cả Việt Nam và Hàn Quốc đều được nhà Đường bên Trung Quốc chiếu cố bằng chính sách bành trướng. Vua Cao Tông nhà Đường sai Tiết Nhân Quý (Xue Renguy) chinh phục xứ Cao Ly, lúc đó họ đang chia làm ba nước, rồi nhà Đường lập An Đông Đô Hộ Phủ vào năm 668 để cai trị Triều Tiên. Rút kinh nghiệm đó Cao Tông cũng sai lập An Nam Đô Hộ Phủ vào năm 679 để cai trị 12 châu của xứ Giao Châu cũ.

Dân Cao Ly chống ngoại xâm giỏi hơn dân Việt. Năm 676 một đạo quân của nước Silla từng liên kết với quân Đường đã quay ngược lại, đánh thắng được quân Đường. Họ phải đợi tới năm 761 mới chấm dứt chế độ Đô Hộ Phủ, giành độc lập và dần dần thống nhất quốc gia. Một phần họ cũng nhờ quân Đường phải rút về vì quân Tây Tạng đang tiến đánh đe dọa cả kinh đô Trường An. Còn dân Việt Nam ta phải đợi lâu hơn một thế kỷ nữa, tới năm 906, khi nhà Đường suy sụp mới có ông Khúc Thừa Dụ tự lập lên làm Tiết Độ Sứ. Tuy nhiên ông vẫn xin vua nhà Đường phong nhậm; mãi đến đời Ngô Quyền vào năm 939 nước ta mới thật sự độc lập.

Trong hơn một ngàn năm sau đó, các nước Triều Tiên và Việt Nam vẫn giữ phận nước nhỏ, mặc dù độc lập nhưng vẫn thần phục và triều cống các hoàng đế Trung Hoa.

Ngày nay, Hàn Quốc cũng chia đôi, không khác gì thời “Tam Quốc” trước đây 14 thế kỷ. Nhưng họ may mắn còn một nửa đất nước vẫn độc lập và đang trở thành một quốc gia hùng cường ở Á Đông. Người dân Nam Hàn không chịu cảnh một ngàn năm bị đô hộ như dân Việt, và cũng không lo bị quân Trung Cộng đánh như hồi 1950; nhưng dân Nam Hàn vẫn đang quan tâm lo ngại về kế hoạch bành trướng của Trung Quốc về mặt kinh tế khiến họ phải lấn áp các nước chung quanh. Giữa Tháng Tư năm 2009 bộ Tài chánh ở Seoul đã công bố một tài liệu nêu lên mối đe dọa vì chính phủ Bắc Kinh đi tìm tài nguyên quặng mỏ bằng cách liên kết thương mại hoặc mua chuộc các chính quyền tham nhũng ở các nước chưa mở mang. Bản báo cáo nói rằng chương trình đó của Bắc Kinh có thể làm cho “các nỗ lực của Hàn Quốc trong việc nhập cảng tài nguyên thiên nhiên sẽ bị lâm nguy.” Bản báo cáo kết luận kêu gọi chính phủ Seoul phải tìm các biện pháp đối phó với kế hoạch bành trướng của Trung Quốc. Những ý kiến công khai này đã gây ra một cơn sốt ngoại giao mà sau đó chính phủ hai nước phải tìm cách làm cho nguội bớt.

Gần đây, Triều Tiên Nhật báo (Chosun Ilbo) ở Seoul đã viết một bài xã luận về mối đe dọa của Trung Quốc. Trong bài báo đó họ nêu lên một thí dụ về thái độ trịch thượng của chính quyền Trung Quốc là việc chính phủ Pháp phải “kéo cờ trắng” trước áp lực của Bắc Kinh. Bên lề cuộc họp Khối G 20 ở London, Tổng Thống Nicolas Sarkozy phải công khai tuyên bố xác nhận nước Pháp không bao giờ ủng hộ Tây Tạng độc lập. Nhưng điều “nhục nhã” mà báo này nêu lên, là vị tổng thống nước Pháp phải đích thân đến phòng ông Hồ Cẩm Đào để “triều kiến” ông trùm đảng Trung Quốc, người chủ tịch đảng Cộng Sản đang ngồi trên ngai vàng của Đường Cao Tông ngày xưa.

Chính phủ Nam Hàn và báo chí ở Seoul có “thù nghịch” với Trung Quốc hay không? Không thù nghịch mà còn giao hảo. Nhưng không phải vì thế mà họ không công bố những ý kiến bất đồng. Và chính phủ Hàn Quốc cũng không cấm báo chí không được nói xấu về Trung Quốc. Không có tờ báo “Du lịch” nào ở Seoul bị đóng cửa vì chỉ trích nước láng giềng vĩ đại.

Hàn Quốc không thể coi Bắc Kinh là kẻ thù; mà ngược lại phải coi đó là “đồng minh khách quan,” vì chỉ có cộng sản Trung Quốc mới có thể tạo sức ép trên chính quyền cộng sản ở Bắc Hàn, và chia sẻ ảnh hưởng của Nhật Bản trong vùng Đông Á. Trung Quốc là nước đứng hàng đầu trong hoạt động ngoại thương của Nam Hàn, mỗi năm có gần 6 triệu người đi lại giữa hai quốc gia. Các công ty Nam Hàn từ Sam Sung tới Kia đang đầu tư 40 tỷ Mỹ kim trong lục địa Trung Hoa. Về mặt kinh tế thì hai quốc gia liên kết với nhau theo thế “môi hở răng lạnh!” Một câu ngạn ngữ ở Hàn Quốc là “Gà gáy ở Sơn Đông thì bên Cao Ly cũng nghe thấy.”

Nói đến gà gáy lại nhớ tới bài hát “Việt Nam, Trung Hoa núi liên núi, sông liền sông” của Đỗ Nhuận viết dưới thời Hồ Chí Minh trị vì, trong đó có câu cực tả (cường điệu) nói dân hai nước (ở Quảng Tây và ở Lạng Sơn, dân Vân Nam cùng dân Lào Cay) cùng nghe thấy tiếng gà gáy sáng với nhau: “Sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy cùng!”

Ở nước ta bây giờ, nhiều người dân Quảng Tây của Trung Quốc cũng đang nghe được tiếng gà gáy ở Việt Nam, nhưng không phải chỉ tiếng gáy ở Lạng Sơn mà là tiếng gà ở tận Quảng Nam lận! Hôm qua Nhật báo Người Việt đã thuật lại những chi tiết do tờ báo Sài Gòn Tiếp Thị tường thuật là có cả một làng công nhân Trung Quốc đã lập nên ở tỉnh Quảng Nam từ mấy năm nay. Báo chí trong nước cho biết có hàng chục ngàn công nhân Trung Quốc đã sang Việt Nam làm việc từ nhiều năm qua ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Cà Mau, và bây giờ vào tận Đắc Nông! Công nhân đi tới đâu mang theo cả các đầu bếp đi theo nấu nướng cho hợp khẩu vị! Họ được chính quyền cộng sản Việt Nam hoan nghênh để thể hiện hình ảnh “Sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy cùng!”

Ở thôn Cà Dầu gần nhà máy thủy điện Za Hưng 1 đang xây cất, thôn trưởng nói mỗi khi công nhân Trung Quốc đến thăm nhà người Việt Nam, họ đều mang quà tới; như chăn màn, thuốc lá, và cả cơm nguội ăn dư để nuôi heo! Cứ theo cái đà tiến triển của tình hữu hảo này thì các công nhân Quảng Tây và người dân Quảng Nam sẽ có ngày không những cùng nghe tiếng gà gáy sớm mà sẽ dần dần tiến đến cảnh “tam cùng,” cùng hút thuốc, cùng ăn thịt heo và cùng chung chăn, chung màn nữa.

Nhưng tại sao phải nhập cảng công nhân Trung Quốc sang làm cả những công việc lặt vặt gọi là việc “phổ thông” như đẩy xe, múc nước, làm “cửu vạn” khuân vác? Bài báo hôm qua dẫn lời giải thích của ông Nguyễn Văn Đảm, tổng giám đốc công ty Za Hưng thuộc Bộ Quốc Phòng Hà Nội: Công nhân Trung Quốc làm việc có hiệu quả hơn, vì ba yếu tố, sức khỏe tốt hơn, chuyên nghiệp hơn, và giữ kỷ luật và tôn trọng của công cao hơn các công nhân người Việt. Đây chắc hẳn là một chính sách của Bộ Quốc Phòng trong chính phủ Hà Nội, chính sách nâng cao hiệu quả công việc.

Nhưng tại sao các công nhân Việt Nam lại yếu sức hơn, tay nghề thì kém mà tinh thần kỷ luật lại yếu hơn các đồng chí Trung Quốc? Có phải bản chất dân Việt Nam vốn thấp kém như thế, hay là nhờ được đảng Cộng Sản lãnh đạo cho nên mới gây ra như thế? Tại sao công nhân nước mình kém cỏi như thế mà hàng trăm ngàn thanh niên nam nữ vẫn được “xuất khẩu lao động?” Nếu công nhân nước mình yếu đuối như vậy thì có nên tìm cách cho họ ăn uống no đủ hơn để nâng cao sức khỏe? Có nên mở trường huấn luyện nghề nghiệp cho công nhân hay là cứ phải đi nhập cảng lao động? Có thể nào nâng cao kỷ luật của công nhân bằng cách các cấp chỉ huy làm gương hay không? Nếu các quan lớn, từ Bộ Chính Trị cho đến chính phủ cũng tôn trọng kỷ luật quốc gia, không tham nhũng, giữ đạo công bằng không kết bè kết phái, không nâng đỡ con ông cháu cha và các đảng viên để chèn ép những người khác, tôn trong của công, thì liệu dân Việt Nam có học được thêm tinh thần kỷ luật hay không?

Nếu theo tiêu chuẩn hễ thấy người ngoại quốc nào làm việc với sức khỏe tốt hơn, hiệu năng cao hơn, thì nên đem họ vào Việt Nam làm việc thay cho các công nhân người Việt, thì có lẽ nên thay thế tất cả Bộ Chính trị, cả chính phủ, nhập cảng các đồng chí Trung Quốc vào làm việc thế chỗ họ. Vì bên Trung Quốc thiếu gì người có học vấn và kinh nghiệm hơn các ông bà trong Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam!

Và chắc chắn các đồng chí Trung Quốc thông hiểu chủ nghĩa Mao Trạch Đông hơn các cán bộ lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam.

Bên Trung Quốc người ta đang tái lập đạo thờ Mao, và ca tụng Mao như một nhà ái quốc. Mới có một cuộc thi chọn những bài hát ái quốc nào hay và được ưa chuộng nhất, do một trang nhà (Website) của chính phủ tổ chức. Bài hát đứng đầu bảng là bài “Đông Phương Hồng” mà các cán bộ lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam tuổi từ 60 trở lên chắc đều phải thuộc lòng (Đông phương hồng mặt trời lên, Trung Quốc có ông Mao Trạch Đông!) Bài hát đứng hạng nhì là “Mặt trời đỏ nhất, Mao chủ tịch yêu quý nhất.” Đây là những bài hát rất phổ thông trong thời “Cách Mạng Văn Hóa” nhưng bây giờ lại được đề cao. Vì lý do nào vậy?

Vì giới lãnh đạo cộng sản Trung Quốc đang mở một chiến dịch cổ động tinh thần ái quốc, và lấy ông Mao làm biểu tượng. Ngày 1 Tháng Mười năm nay họ sẽ kỷ niệm 60 năm thành lập chính thể cộng sản. Sẽ có những cuộc diễn binh vĩ đại. Đêm sẽ có những màn trình diễn ngoạn mục do Trương Nghệ Mưu đạo diễn không kém gì cảnh diễn xuất ở Thế Vận Hội năm ngoái. Cho nên ngay tự bây giờ Bộ Chính trị đảng Cộng Sản đã nấu sẵn món canh “ái quốc” cho dân tộc Trung Hoa ăn, và mô tả ông Mao Trạch Đông là người có tư tưởng ái quốc vĩ đại! Họ muốn mọi người dân Trung Hoa hãnh diện về nước Trung Hoa, tự hào về nhà ái quốc Mao Trạch Đông!

Nhưng khi mô tả Mao Trạch Đông như một nhà ái quốc thì họ có tự mâu thuẫn hay không, khi cũng vẫn ca ngợi ông như là một nhà lãnh đạo vĩ đại của vô sản thế giới trong suốt mấy chục năm? Không sao cả, đối với người Trung Hoa thì ông ta là người theo chủ nghĩa dân tộc vĩ đại, còn đối với thế giới sẽ đeo cho ông ta bộ mặt khác!

Đối với người Trung Hoa ở lục địa, Mao Trạch Đông là người theo chủ nghĩa ái quốc. Ai đi thăm Vạn Lý Trường Thành đều thấy chữ viết của Mao Trạch Đông trên bia đá; một cảnh tượng khiến ông Lý Quang Diệu phải thấy dòng máu Hán tộc trong con người ông sôi lên. Mao viết: “Bất kiến Trường thành phi hảo Hán” (Chưa thấy Trường Thành thì không phải là người Hán giỏi). Cũng trong thắng cảnh đó, có thủ bút của Đặng Tiểu Bình: “Ái ngã Trung Quốc, tu ngã Trường thành” (Yêu Trung Quốc của ta, tu bổ Trường thành của ta). Cái gì cũng của ta, của ta. Họ rất tự hào, và họ có lý do chính đáng!

Nhưng khi một tỷ người Trung Hoa được bộ máy tuyên truyền của đảng Cộng Sản Trung Quốc đêm ngày tôi luyện tinh thần ái quốc và tự hào chủng tộc, thì tất cả các dân tộc ở những nước nhỏ chung quanh đều phải lo lắng. Có người sẽ thấy sợ đến dựng tóc gáy!

Trừ quý vị lãnh tụ đảng Cộng Sản Việt Nam là cứ thản nhiên.

Khi các nhà trí thức trong nước tỏ ý kiến chống việc cho đạo quân công nhân Trung Quốc vào khai thác quặng bô xít ở cao nguyên Trung phần, ngoài các lý do kinh tế và môi trường sống người ta còn nêu lên vấn đề chiến lược. Cao nguyên Trường Sơn ở nước ta là mái nhà của cả vùng. Làm xa lộ Bắc Nam trên Trường Sơn, mở rộng các xa lộ nối nước Lào với bờ biển miền Trung, rồi lại cho hàng vạn người Trung Quốc tới làm việc ở đó không theo quy chế nào cả, thì quả là một điều đáng lo ngại.

Nhưng trong tháng trước, ông Nguyễn Tấn Dũng đã làm một cuộc hành hương kéo dài một tuần lễ ở Trung Quốc. Nhà bình luận David Pilling trên Nhật báo Financial Times đã mô tả chuyến công du đó như là một cuộc triều kiến, và nêu rõ món quà ông Nguyễn Tấn Dũng đã tiến cống thiên triều là những quặng mỏ bauxite, mà ký giả này ghi nhận đó là nguồn quặng bauxite lớn thứ ba trên thế giới. Món quà triều cống này, theo ông, là để giảm bớt một phần lỗ hổng mậu dịch giữa Trung Quốc và Việt Nam, năm ngoái lên tới 11 tỷ đô la. Ông Pilling cũng nhắc lại là Việt Nam từng bị Trung Quốc đô hộ một ngàn năm.

Nhưng ai cũng biết dù bị cai trị hà khắc suốt một ngàn năm, dân Việt Nam vẫn không bị đồng hóa mà còn giành lại được độc lập, cũng như dân Cao Ly. An Nam Đô hộ phủ đã sụp đổ cũng như An Đông Đô hộ phủ đã tan rã.

Hai dân tộc Việt Nam và Hàn Quốc cùng anh dũng như nhau. Họ không bao giờ chịu khuất phục. Hiện nay chỉ có một điểm khác biệt giữa hai nước, Việt Nam và Hàn Quốc, là bên xứ Nam Hàn có một chế độ dân chủ tự do và đã theo kinh tế thị trường từ hơn nửa thế kỷ nay; ngược lại bên Việt Nam thì đã bị chủ nghĩa cộng sản theo lối Mao Trạch Đông chiếm cứ hơn nửa thế kỷ và đến giờ vẫn một đảng cộng sản nắm độc quyền.