Bịt miệng người đưa tin
DCVOnline – Quan điểm (The Economist)
Những hạn chế mới của tự do ngôn luận
Như đối tác của họ ở Trung Quốc, những người cộng sản đang cầm quyền ở Việt Nam tuồng như nhạy cảm hơn với những sự chỉ trích. Mới tháng rồi hai ông tổng biên tập của hai tờ báo dẫn đầu khuynh hướng cải cách, ông Nguyễn Công Khế của tờ Thanh Niên, và ông Lê Hoàng của báo Tuổi Trẻ, đã được cho hay là hiệp đồng của họ không được gia hạn, rõ ràng là bởi vì hai người này đã làm qúa giòi công việc của họ. Hai tờ báo của họ đã năng nỗ phơi bày một vụ tham nhũng của viên chức nhà nước, được biết đến như là vụ tham nhũng của một đơn vị xây dựng cầu đường của Bộ Giao thông. Hai nhà báo đứng sau vụ phơi bày này đã bị trừng phạt ở một phiên tòa Hà Nội tháng Mười năm rồi vì tội “lạm dụng tự do dân chủ.” Giờ đây, tuồng như là đến phiên hai ông tổng biên tập của họ, bị … đền tội. Số người bị bắt bớ nhiều lên trong năm ngoái gợi ý là một sự trấn áp khẩn cấp ở mức độ to lớn hơn.
Kể từ khi bắt đầu có sự đổi mới trong năm 1986, sự khai phóng nền kinh tế đã đi kèm với sự nới lỏng dần về mặt chính trị. Hiện có khoảng 700 tờ báo đang lưu hành. Tất cả đều do nhà nước kiểm soát, nhưng một số trong những tờ báo này đã nói lên tiếng nói tương đối mạnh mẽ hơn. Trong lúc đó, một thế hệ trẻ, rành rọt ba chuyện máy móc internet đã đưa những ý kiến cá nhân lên mạng, trong những blogs được ký tên qua những tên gỉa. Những người này đặt vấn đề với chính sách nhà nước với sự nhiệt tình ngày càng tăng. Chỉ một ngày sau khi hai nhà báo bị bắt năm rồi, hai tờ báo của họ đã lên tiếng chỉ trích hành động của nhà nước một cách công khai, làm một số người lên ruột. Nhà nước giờ đây cũng muốn ngăn chận những bloggers làm họ khó chịu, nhà nước đã ra luật lệ hôm tháng Mười Hai nhằm hạn chế những nội dung nhạy cảm về vấn đề chính trị trên mạng internet.
Một hệ qủa có thể đi kèm là làm xìu cái động lực chống tham nhũng của viên chức nhà nước. Mặc dù có những thành công được công bố rộng rãi, những chỉ trích cho rằng cho đến nay chỉ những viên chức cấp thấp, hàng cắc-ké bị bắt và đưa ra tòa kể từ khi đạo luật chống tham nhũng ra đời năm 2005. Như thế trong chuyện chống tham nhũng này, áng chừng như nhà nước đã chuyển qua cái thế vô hiệu hóa báo chí trước khi một siêu tham nhũng bị sa lưới. Nhưng ông David Koh, thuộc Học viện Nghiên cứu Đông Nam Á của Tân Gia Ba (Singapore), nói rằng không vì thế mà nhà báo Việt Nam không có phần lỗi trong đó. Một vài tờ báo, đối diện với sự cạnh tranh độc gỉa khốc liệt, họ đã chọn lựa cách “phịa tin”. Trần Lê Thủy, một cựu nhà báo của tờ Tuổi Trẻ, cho rằng thiếu hẳn một luật lệ chống bôi nhọ, phỉ báng hay luật bảo vệ sự riêng tư, nhà nước không có những phương cách nào để chỉnh lý những điều cho là không thật hơn là những kết án nặng tính chính trị như là “lạm dùng sự tự do dân chủ.”
Tất cả những điều này đến không đúng lúc, khi những bất cập bắt đầu xuất hiện trong lãnh vực kinh tế của Việt Nam. Nỗi lo sợ về một sự khủng hoảng tài chánh đã làm chấn động niềm tự tin của giới đầu tư tháng Tư năm rồi. Bây giờ, lượng đòi hỏi mặt hàng xuất cảng của Việt Nam đã giảm mạnh, và đầu tư của ngoại quốc có lẽ bị hạn chế, khó khăn đi do tình trạng thiếu hụt tín chỉ trên toàn cầu. Việt Nam đang đối diện với triển vọng của sự suy giảm kinh tế trầm trọng nhất từ trước đến nay. Sở Nghiên cứu Tri thức Kinh tế, một công ty cùng chủ với tờ Economist, tiên đoán rằng sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam sẽ giảm xuống từ 6.1% trong năm 2008 xuống còn 3.2% trong năm 2009.
Với hằng ngàn người Việt Nam có thể mất việc trong năm nay, cái hiểm họa của một sự bất ổn xã hội xảy ra trong nước sẽ chắc chắc gia tăng. Nhà nước có thể bị đưa vào thế làm dữ để xác định quyền thống trị của mình bằng cách đàn áp, bịt miệng hết những sự chỉ trích. Tuy nhiên, sa thải hay bỏ tù nhà báo và những bloggers trong nước thay vì lôi cổ những viên chức nhà nước tham nhũng để thảy vô tù thì khó lòng mà có thêm bạn.