"Mật" và "không mật"
Nguyễn Ngọc Điện
Biết tường tận những gì đang diễn ra chung quanh là điều kiện cần, thậm chí tối cần, cho việc thực hiện quyền được sống trong không gian chung, một trong những quyền cơ bản của con người trong xã hội có tổ chức.
Đơn giản, chỉ khi nào nhìn nhận được đầy đủ, chân thực về khung cảnh sống, đặc biệt là về những yếu tố tác động đến sự tồn tại của mình, con người mới có thể xác định phương án ứng xử phù hợp. Trong trường hợp đã hiểu rõ đúng, sai, thực, hư mà làm bậy, con người sẽ chịu trách nhiệm trước xã hội, trước đồng loại một cách tâm phục, khẩu phục.
Với tư cách là người đảm nhận chức năng bảo đảm tính có tổ chức của xã hội, nhà chức trách có nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc thực hiện quyền được biết của công dân trong khuôn khổ trật tự xã hội. Đặc biệt, môi trường giao tiếp xã hội trong mối quan hệ giữa nhà chức trách và công dân phải luôn có một giao diện minh bạch, vận hành trên cơ sở tôn trọng nghiêm ngặt luật chơi theo đó, “quyền được biết của công dân là nguyên tắc, quyền giữ bí mật của nhà chức trách là ngoại lệ”.
Việc xác định các ngoại lệ thông tin “mật” phải được minh định trong văn bản quy phạm, bằng các quy tắc rành mạch với những câu từ trong sáng, dễ hiểu. Về nôi dụng, các ngoại lệ ấy phải được xây dựng dựa theo một hệ thống tiêu chí khách quan rõ ràng, cụ thể.
Chẳng hạn, xã hội có tổ chức và thượng tôn pháp luật thừa nhận rằng mỗi công dân có quyền giữ cho riêng mình những dữ kiện, thông tin gắn chặt với nhân thân, tạo thành những yếu tố của cái gọi là cuộc sống riêng tư.
Bí mật đời tư là một trong những lợi ích cơ bản mà mỗi công dân, mỗi người, khi tham gia vào đời sống xã hội, đều mong muốn gìn giữ: một cách tự nhiên, chẳng ai muốn chia sẻ với xã hội, với công chúng những kỷ niệm buồn vui, sâu lắng liên quan đến sinh hoạt gia đình, quan hệ bè bạn, yêu đương,… Đặc biệt, ở một nước còn nghèo, người có ít nhiều của cải thường không muốn sự sung túc mình thụ hưởng là đề tài của những cuộc bàn tán của dư luận xã hội, bởi, nói cho dễ hiểu, người ta sợ bị ăn cướp.
Nhưng mặt khác, xã hội có tổ chức và thượng tôn pháp luật cũng đòi hỏi rằng những công dân được trao quyền lực công phải là những người tỏ ra xứng đáng với sự tín nhiệm của công chúng. Sự xứng đáng, về phần mình, được đánh giá không chỉ dựa vào kết quả công tác chuyên môn, mà cả vào những yếu tố tạo thành phẩm chất, nhân cách của quan chức, trong thân phận một thành viên của xã hội công dân, một con người trong thế giới nhân văn.
Chắc chắn, bộ máy cầm quyền không thể được coi là lành mạnh, một khi các thành viên giữ các vị trí xung yếu lại xuất hiện trước công chúng như những nhân vật không rõ xuất xứ, lai lịch, nói chung là bí ẩn. Ít nhất xã hội phải có quyền biết về gia thế của những người ấy, về việc họ đã học hành như thế nào, bằng cấp gì, đã làm gì, ở đâu và nhất là đang sở hữu những tài sản nào, có tài khoản ở những ngân hàng nào, với số dư bao nhiêu…
Cơ quan hành pháp có thể được giao quyền xây dựng các quy tắc chỉ định thông tin cần bảo mật. Nhưng công việc xây dựng hệ thống tiêu chí xác định tính chất “mật” của thông tin dứt khoát phải thuộc thẩm quyền của cơ quan lập pháp.
Tập hợp các đại diện cho các lợi ích khác biệt trong xã hội, cơ quan lập pháp tiến hành cân phân một cách hợp lý các lợi ích chính đáng trái ngược, xung đột trong quá trình phân biệt “công-tư”, rồi biểu quyết thông qua hệ thống quy tắc cụ thể giải quyết xung đột, một cách dân chủ theo đa số. Việc cơ quan hành pháp ban hành danh mục thông tin “mật” trong một lĩnh vực quán lý nhà nước nào đó, chỉ mang ý nghĩa cụ thể hoá, áp dụng các quy tắc chung trong các trường hợp đặc thù.
• TS Nguyễn Ngọc Điện